Gió núi lướt qua rừng thông.
Lá thông xào xạc, giống như có người ở nơi rất xa khẽ đáp lại một tiếng.
Tôi ngồi trước mộ, gọi video cho mẹ.
Mẹ đang gói sủi cảo ở nhà, màn hình rung lắc không ngừng.
Bà hỏi:
“Thăm cha con rồi à?”
“Vâng.”
“Có khóc không?”
“Không.”
Mẹ cười.
“Vậy về ăn cơm.”
Tôi nói:
“Mẹ, có thể con phải đến Vân Độ ở nửa năm.”
Động tác trong tay bà dừng lại.
“Làm gì?”
“Dự án Hải Đăng.”
Đây là dự án mới do tôi cùng cơ quan ứng phó khẩn cấp của ba tỉnh, một số trường đại học và vài tổ chức công ích cùng khởi xướng.
Mô-đun cảnh báo cốt lõi của “Vụ Đăng” sẽ được mở miễn phí cho hệ thống ứng phó khẩn cấp cấp huyện.
Tất cả các gói mua sắm triển khai đều phải đấu thầu công khai.
Toàn bộ dữ liệu thuộc về cơ quan công quyền địa phương.
Doanh nghiệp thương mại có thể tham gia vận hành, nhưng không được độc quyền mô hình, cũng không được lấy dữ liệu thiên tai để huấn luyện sản phẩm thương mại.
Quan trọng hơn, chúng tôi sẽ đào tạo tình nguyện viên địa phương.
Đặc biệt là phụ nữ trong làng.
Bởi khi lũ quét sắp đến, những người đầu tiên phát hiện nước giếng đục, sân sau thấm nước, gia súc có biểu hiện bất thường thường không phải là những người ngồi trong văn phòng nhìn màn hình lớn.
Mà là người mẹ dậy sớm nấu cơm.
Là người bà đi đón cháu tan học.
Là người thím trời mưa vẫn phải ra ruộng rau nhìn một vòng.
Họ không phải “đối tượng được cứu hộ”.
Họ có thể trở thành đôi mắt nhạy bén nhất trong mạng lưới cảnh báo.
Mẹ nghe xong, im lặng rất lâu.
Tôi cứ nghĩ bà sẽ lo lắng.
Nhưng bà lại nói:
“Đi đi.”
“Nếu khi ấy cha con có nhiều đôi mắt như vậy, có lẽ ông ấy đã trở về.”
Sống mũi tôi cay xè.
“Mẹ.”
“Ừ?”
“Mẹ có cảm thấy con quá cứng rắn không?”
Mẹ nặn xong một chiếc sủi cảo, đặt lên thớt.
“Cứng một chút mới tốt.”
Bà nói.
“Chỉ có quả hồng mềm mới luôn bị người ta bóp.”
Lần nữa gặp Chu Tự Bạch là ở bên cây cầu cũ Nam Xuyên.
Hôm đó tôi vừa kết thúc một buổi đào tạo tình nguyện viên.
Ánh chiều tà rơi xuống mặt sông, dòng nước chảy chậm, giống như một dải bạc đã bị mài cũ.
Chu Tự Bạch đứng ở đầu cầu, trong tay cầm một chiếc ô đen.
Anh ta gầy đi rất nhiều, mặc một chiếc áo khoác xám đơn giản, trông không còn giống Tổng giám đốc Chu hăng hái ngày trước.
Tôi dừng bước.
Anh ta nói:
“Anh đã đợi em rất lâu.”
Tôi nhìn trời.
“Không mưa.”
Anh ta cười khổ.
“Chỉ là quen mang theo.”
Lúc chúng tôi mới quen, anh ta luôn quên mang ô.
Lần nào tôi cũng nhét ô cho anh ta.
Sau này anh ta bắt đầu mang ô bên người.
Tôi còn từng vui mừng vì chuyện đó, cảm thấy một người sẵn lòng thay đổi thói quen sinh hoạt vì mình là một điều rất lãng mạn.
Bây giờ nghĩ lại, có lẽ khi ấy tôi quá dễ khen thưởng người khác.
Người ta học được một việc vốn dĩ nên biết, tôi đã vội vỗ tay cho họ.
Chu Tự Bạch tiến lại gần.
“Hôm nay anh không đến cầu xin em quay đầu.”
Tôi gật đầu.
“Vậy thì tốt.”
Yết hầu anh ta chuyển động.
“Anh đến để xin lỗi.”
Tôi không nói gì.
Anh ta nói:
“Xin lỗi em, Kiến Vi.”
“Vì đã trộm mã nguồn, vì buổi họp báo, vì sự cố Thanh Nhai, cũng vì những năm qua… anh luôn cho rằng em sẽ đứng về phía anh.”
“Sau này anh mới hiểu, anh chưa từng nghiêm túc hỏi em đứng về phía nào.”
Gió sông thổi phần đuôi tóc tôi bay lên.
Tôi nhìn mặt nước.
“Tôi đứng về phía mạng người.”
Anh ta khẽ nói:
“Anh hiểu rồi.”
Tôi nói:
“Hiểu hơi muộn.”
Hốc mắt anh ta đỏ lên, nhưng lần này không còn cố dùng nước mắt để giữ tôi lại.
“Sau này nếu có việc cần Công nghệ Trừng Hải phối hợp bồi thường, em có thể trực tiếp liên hệ bộ phận pháp chế.”
Anh ta nói.
“Anh đã rút khỏi ban quản lý công ty.”
“Ừ.”
“Còn nữa…”
Anh ta đưa cho tôi một chiếc hộp cũ.
“Đây là những thứ trước kia em để ở chỗ anh.”
Tôi mở ra.
Bên trong là vài tấm ảnh cũ, một huy hiệu dự phòng của Giải thưởng Kỹ sư trẻ và bản sao cuốn sổ tay từng bị ngâm nước của cha tôi.
Tôi nhận lấy chiếc hộp.
“Cảm ơn.”
Chu Tự Bạch nhìn tôi.
“Kiến Vi, sau này em sẽ hạnh phúc chứ?”
Câu hỏi này thật kỳ lạ.
Giống như hạnh phúc là một tấm giấy chứng nhận do người khác trao cho tôi.
Tôi nghĩ rồi nói:
“Bây giờ tôi đang hạnh phúc.”
Anh ta sững người.
Tôi khép hộp lại.
“Chu Tự Bạch, trước kia tôi luôn cho rằng hạnh phúc là có người yêu tôi, chọn tôi, kiên định đứng bên cạnh tôi.”
“Sau này tôi mới phát hiện không phải.”
“Hạnh phúc là tôi không còn phản bội chính mình.”
Tiếng nước dưới cầu rất khẽ.
7.
Anh ta không nói thêm.
Tôi đi lướt qua người anh ta.
Khi đi đến giữa cầu, trên trời bỗng rơi xuống vài hạt mưa nhỏ.
Rất mảnh, giống những sợi chỉ màu xám.
Tôi không quay đầu.
Trong túi có áo mưa.
Lần này, tôi không cần đợi chiếc ô của bất kỳ ai.
Nửa năm sau, khóa “Nhân viên Hải Đăng” đầu tiên của Vân Độ tốt nghiệp.
Ba mươi bảy người.
Hai mươi chín người là phụ nữ.
Lớn tuổi nhất là bà La, sáu mươi bốn tuổi. Nhỏ tuổi nhất là cô gái người Miêu tên A Lam, vừa tròn mười chín.
Ngày tốt nghiệp, trời rất xanh.
Trên sân trường tiểu học treo một tấm băng rôn, chữ viết hơi xiêu vẹo:
Núi của chính mình, chính mình cũng có thể bảo vệ.
Bà La đeo kính lão, đứng trên sân khấu đọc bài phát biểu.
Bà không biết nhiều chữ, đọc ngập ngừng từng đoạn.
“Trước kia cứ mưa lớn là chúng tôi chờ cán bộ thông báo. Cán bộ bảo đi thì chúng tôi mới đi. Cán bộ chưa đến, chúng tôi cho rằng không có chuyện gì.”
“Bây giờ khác rồi.”
“Tôi biết xem ống đo lượng mưa, biết nhìn vết nứt sau nhà, biết loa phát thanh hỏng thì phải tìm ai sửa.”

