Cửa nhà chính mở sẵn, đèn cũng đang sáng. Thẩm Lệnh Nghi bước vào, phản ứng đầu tiên không phải là nhìn cách bài trí trong nhà, mà là ngửi thấy một mùi thuốc – không phải thứ mùi nước khử trùng trong bệnh viện, mà là một mùi hương thuốc bắc ấm áp hơn, mang theo hơi thở của cỏ cây, giống như vỏ cây hay rễ cỏ nào đó được đun sôi tỏa ra.
Căn phòng không lớn, đặt một chiếc giường ván gỗ, một tủ quần áo ba buồng kiểu cũ, một chiếc bàn làm việc đã không còn nhìn rõ màu sắc nguyên bản, trên bàn xếp vài cuốn sách đóng chỉ và một xấp phổ nhạc chép tay. Góc tường dựng một cây đàn tỳ bà, trên thân đàn có vài vết nứt nhỏ, nhưng lớp nước men ôn nhuận, nhìn là biết món đồ cũ đã được dùng rất nhiều năm. Rèm cửa là loại vải bông họa tiết hoa vụn rất bình thường, giặt đến bạc màu, nhưng được gấp gọn gàng, ngay ngắn.
Mọi thứ đều rất cũ, nhưng mọi thứ đều rất sạch sẽ.
Khương Nhạn Trì đi đến chiếc bếp ga ở góc nhà, xách một ấm nước đã đen sì dưới đáy lên, rót nước nóng vào hai chiếc cốc tráng men. Trên cốc tráng men in dòng chữ “Phục vụ nhân dân”, là kiểu dáng có thể mua được với giá vài đồng ở các khu chợ đồ cũ. Cô lấy một hộp thiếc từ trong ngăn kéo bàn, dùng một chiếc thìa trà đã rỉ sét múc hai thìa lá trà bỏ vào cốc, lá trà từ từ bung ra trong nước nóng, giống như một nụ hoa say ngủ được đánh thức.
“Ngồi đi.” Cô đẩy một chiếc cốc tráng men đến trước mặt Thẩm Lệnh Nghi, bản thân thì ngồi xuống mép giường, hai tay ôm chiếc cốc còn lại, cúi đầu nhìn lá trà chìm nổi bên trong.
Thẩm Lệnh Nghi không ngồi. Cô đứng giữa phòng, ánh mắt chuyển từ xấp sách đóng chỉ sang cây tỳ bà nứt nẻ, rồi đến chiếc cốc tráng men in chữ “Phục vụ nhân dân”, cuối cùng rơi xuống khuôn mặt Khương Nhạn Trì – cô ấy đang cúi đầu, những sợi tóc lưa thưa rủ xuống che khuất nửa khuôn mặt, nửa khuôn mặt lộ ra không có biểu cảm gì, tĩnh lặng như một bức tượng đất sét chưa tô màu.
Hình ảnh này khác hoàn toàn với bất kỳ sự tưởng tượng nào mà Thẩm Lệnh Nghi đã xây dựng trong năm tuần qua.
Cô từng mường tượng xem Khương Nhạn Trì sống ở nơi như thế nào. Dựa theo mức độ đầu tư của Lục Thời Nghiên – 300.000 tệ, tần suất hai ngày một lần, hoa dành dành, trà ấm cổ – cô vô thức cho rằng Khương Nhạn Trì ít nhất cũng sống trong một căn hộ tươm tất, nói không chừng còn là do Lục Thời Nghiên giúp cô thuê, loại có cửa kính sát đất và ban công nhỏ, có thể nhìn thấy cảnh đêm của con kênh đào cổ.
Nhưng nơi này không có cửa sổ sát đất, không có ban công nhỏ, không có cảnh đêm kênh đào cổ. Nơi này chỉ có một ô cửa sổ gỗ dán báo, ngoài cửa sổ là một bức tường gạch phủ rêu xanh, trên tường giăng một sợi dây kẽm rỉ sét, treo một chiếc khăn mặt màu xanh vẫn còn nhỏ giọt.
Thẩm Lệnh Nghi chợt nhận ra một khả năng mà trước đây cô chưa từng nghĩ tới.
Lục Thời Nghiên có thể hoàn toàn không biết Khương Nhạn Trì sống ở đây. Anh thậm chí có thể chưa từng hỏi cô sống ở đâu.
“Cô sống ở đây?” Thẩm Lệnh Nghi nghe thấy mình hỏi một câu rất ngớ ngẩn.
Khương Nhạn Trì ngẩng đầu lên liếc nhìn cô, trong ánh mắt không có sự bối rối, không che đậy, cũng không có bất kỳ ngụ ý nào kiểu “Cô nên cảm thấy thương hại tôi”. Cô ấy cứ bình tĩnh nhìn Thẩm Lệnh Nghi, giống như câu hỏi này và câu “Hôm nay thời tiết thế nào” chẳng khác gì nhau.
“Sống ở đây gần một năm rồi,” cô nói, “Giá thuê mỗi tháng 800.”
800. Thẩm Lệnh Nghi thầm lặp lại con số này trong lòng. Tuần trước cô nạp 5.000 tệ vào thẻ hội viên của Phù Sinh Ký, đủ để Khương Nhạn Trì trả tiền thuê nhà hơn nửa năm. Bản thân cô mỗi buổi trưa đi ăn ở quán ăn riêng gần công ty, một bữa cũng mất từ 300 tệ, đủ để Khương Nhạn Trì trả tiền nhà gần nửa tháng.
“Uống trà đi,” Khương Nhạn Trì bưng cốc tráng men của mình lên thổi nhẹ hơi nóng, “Nguội rồi sẽ không ngon nữa.”

