Thẩm Lệnh Nghi cuối cùng cũng ngồi xuống chiếc ghế duy nhất. Ghế bằng mây tre đan, ngồi lên sẽ phát ra tiếng “cót két” khe khẽ, mặt ghế đã bị ngồi lún xuống thành một vết lõm hình người, vừa vặn bọc gọn cơ thể cô. Cô bưng cốc tráng men lên, cúi đầu nhìn, nước trà màu rất đậm, gần như không nhìn thấu được, hoàn toàn khác biệt với những chén trà tinh xảo cô từng uống ở Phù Sinh Ký.

Nhưng sau khi vào miệng, cô hơi khựng lại. Không phải loại lá trà đắt tiền gì, có thể chỉ là trà rang thông thường, nhưng nhiệt độ nước được khống chế cực tốt, vị đắng chát của lá trà được kìm nén ở mức tối đa, để lại trên đầu lưỡi là một vị hậu ngọt ngào, ôn hậu đến mức gần như có thể gọi là thuần hòa. Không phải là kỹ xảo, mà là thói quen. Một người mỗi ngày đều tự pha trà cho mình, pha suốt nhiều năm, tự nhiên sẽ biết nhiệt độ nước thế nào, thời gian ngâm bao lâu là thích hợp nhất cho loại lá trà bình dân nhất này.

Thẩm Lệnh Nghi uống thêm một ngụm.

Sự tĩnh lặng trong căn phòng không hề gượng gạo, thậm chí còn mang đến một cảm giác thoải mái kỳ lạ. Hai người ngồi trong căn nhà cũ giá thuê 800 tệ một tháng, cách nhau một chiếc bàn làm việc trải báo cũ, tự uống chén trà rẻ tiền của mình, không ai nói chuyện. Xa xa thi thoảng vang lên tiếng còi tàu trên kênh đào, trầm mặc và vang vọng, giống như tiếng thở dài truyền đến từ một nơi rất xa.

“Sao chị lại ở trong con hẻm đó?” Khương Nhạn Trì lên tiếng trước.

Ngón tay bưng cốc tráng men của Thẩm Lệnh Nghi hơi siết lại. Cô muốn nói “đi ngang qua”, muốn nói “lạc đường”, muốn nói bất kỳ một cái cớ hoàn mỹ nào đó để không tự bóc trần mình. Nhưng cô há miệng, tất cả những ngôn từ chuẩn bị sẵn đều ứ đọng lại trong cổ họng, một chữ cũng không thoát ra được.

“Khóc.” Cuối cùng cô nói ra một chữ.

Khương Nhạn Trì không gặng hỏi tại sao khóc. Cô ấy chỉ gật đầu, cúi đầu tiếp tục uống trà, giống như đây là một câu trả lời hết sức bình thường.

“Cô không hỏi tại sao à?” Thẩm Lệnh Nghi nói.

“Lúc nào chị muốn nói thì sẽ nói,” Khương Nhạn Trì ngẩng đầu lên nhìn cô, khóe miệng mang một độ cong cực nhạt, không thể tính là cười, mà giống một sự mặc nhiên đầy thiện ý hơn, “Khi không bị hỏi mà nói ra, lời nói đó mới là sự thật.”

Thẩm Lệnh Nghi nhìn cô ấy chằm chằm vài giây, đột nhiên có một cảm giác rất kỳ lạ – không phải là địch ý, không phải ghen tị, không phải cái ý chí chiến đấu “tôi muốn đánh bại người này” mà cô đã diễn tập đi diễn tập lại trong suốt năm tuần qua. Mà là một sự cảnh giác nguyên thủy, bản năng hơn, giống như hai con vật đang uống nước bên cùng một đầm lầy, xuyên qua mặt nước nhìn thấy đôi mắt phản chiếu của nhau.

“Cô biết trong hệ thống hội viên của Phù Sinh Ký,” Thẩm Lệnh Nghi đặt cốc xuống, nhìn thẳng vào mắt Khương Nhạn Trì, “Có một vị khách họ Thẩm, nửa tháng nay đến bảy lần, nạp 5.000 tệ.”

Tay cầm cốc của Khương Nhạn Trì dừng lại khoảng không phẩy mấy giây. Sự khựng lại này quá ngắn, nếu không phải nhờ khóa huấn luyện chuyên môn của Thẩm Lệnh Nghi – công việc yêu cầu cô phải nắm bắt từng sự thay đổi nhỏ nhất trong biểu cảm của đối phương trên bàn đàm phán – cô sẽ không đời nào nhận ra.

“Là chị.” Khương Nhạn Trì nói.

Không phải câu hỏi, mà là câu trần thuật. Thẩm Lệnh Nghi gật đầu, không phủ nhận.

“Lẽ ra cô nên hỏi tôi tại sao lại đến chứ?” Thẩm Lệnh Nghi nói.

Khương Nhạn Trì cụp mắt xuống, nhìn chiếc cốc tráng men trong tay. Chữ đỏ trên thân cốc đã bị bào mòn loang lổ, chữ “Vụ” sau từ “Phục vụ nhân dân” chỉ còn lại một nét bộ thủ lờ mờ. Cô im lặng rất lâu, lâu đến mức Thẩm Lệnh Nghi tưởng cô sẽ không trả lời nữa.

Rồi cô ngẩng đầu lên, cười.