lúc lâu. Trên màn hình là bảng tiến độ dự án cải tạo Phù Sinh Ký, mỗi hạng mục đều được giao cho người phụ trách và có thời hạn chót rõ ràng, mọi số liệu đều đã được tính toán và kiểm tra chéo chính xác. Những thứ này vốn là sở trường của cô, cô chưa bao giờ do dự trước chúng.
Nhưng ngay lúc này, điều khiến cô do dự lại không phải những thứ này.
Cô đang do dự trước một câu hỏi mà cô chưa từng bận tâm: Rốt cuộc cô đang làm cái gì?
Hai tuần trước, cô còn ở trong ngôi nhà do chính cô mua, ngủ trên chiếc giường do chính cô chọn, trải qua từng ngày bằng phương thức chi li đến từng phút quen thuộc của cô. Bây giờ, cô ở trong căn hộ dịch vụ thuê 5.000 tệ một tháng, mỗi ngày làm việc ở sân sau một quán trà cổ lỗ sĩ không có điều hòa trung tâm, bữa trưa ăn hoành thánh tề thái do người khác nấu, eo đắp một chiếc chăn len từ một người dưng.
Những chuyện này chưa từng xuất hiện trong bất kỳ kế hoạch nào của cô. Chẳng có chuyện nào được suy ra từ các phương pháp luận cô đã học ở trường thương mại. Không có chuyện nào có ROI (Tỷ suất hoàn vốn) là số dương cả.
Thế nhưng ngồi ở đây, lần đầu tiên cô cảm thấy “không lỗ”.
Không phải vì những việc này mang lại tiền bạc cho cô – thực tế là cô đang ném tiền qua cửa sổ, ngân sách cải tạo Phù Sinh Ký đã bị đội vốn từ 3 vạn ban đầu lên thành 8 vạn, và dự án này ít nhất phải mất nửa năm nữa mới hy vọng tạo ra dòng tiền dương. Mà bởi vì, cô phát hiện ra khi làm những việc này, cô không cần phải tính toán.
Cô chỉ cần làm. Cứ làm là được, mặc kệ kết quả ra sao.
Cảm giác này xa lạ đến mức khiến cô hơi run sợ.
Điều cô sợ không phải là thất bại, cô chưa bao giờ sợ thất bại. Cô sợ rằng – ngộ nhỡ một ngày nào đó cô quen với cuộc sống không cần toan tính này, liệu cô còn có thể quay lại thế giới ban đầu của mình được nữa không?
Cô cầm điện thoại, nhắn cho Khương Nhạn Trì: Trưa nay ăn gì?
Khương Nhạn Trì phản hồi rất nhanh: Hoành thánh tề thái. Chị tự gói à?
Thẩm Lệnh Nghi đặt điện thoại xuống, không thèm trả lời.
Mười hai giờ trưa, khi Khương Nhạn Trì bưng một bát hoành thánh to tướng bước vào sân sau, Thẩm Lệnh Nghi đang ngồi trên chiếc ghế công thái học, trước mặt bày hai chiếc bát không và hai đôi đũa.
“Hoành thánh đâu?” Thẩm Lệnh Nghi ngẩng lên nhìn cái bát trên tay Khương Nhạn Trì.
“Trong tay tôi này.” Khương Nhạn Trì đáp.
“Một bát đủ cho hai người ăn à?”
“Dạ dày tôi nhỏ.”
Thẩm Lệnh Nghi im lặng một chút, đứng dậy, cầm lấy bát hoành thánh từ tay Khương Nhạn Trì, đặt xuống bàn, rồi đi thẳng vào bếp – gian bếp bé tí tẹo chỉ đủ một người xoay xở cạnh giếng trời. Trên bếp ga là một cái nồi, nắp nồi hé mở một nửa, bên trong vẫn còn hơn nửa nồi nước dùng hoành thánh đang sôi lăn tăn. Thẩm Lệnh Nghi lấy hai chiếc bát từ tủ chén ra, chia phần hoành thánh trong nồi thành hai, bưng ra ngoài.
Khương Nhạn Trì đứng ngoài cửa sân sau, nhìn cô bưng hai bát hoành thánh đi tới, vẻ mặt có chút phức tạp.
“Chị vào bếp của tôi à,” cô nói, giọng điệu không giống như đang trách móc, mà giống như đang kể lại một sự việc khó lòng lý giải, “Chị mà cũng biết dùng bếp ga cơ đấy.”
“Tôi đâu phải người ngoài hành tinh,” Thẩm Lệnh Nghi đặt một bát hoành thánh trước mặt Khương Nhạn Trì, “Tuy tôi ít khi vào bếp, nhưng không có nghĩa là tôi không biết bật bếp ga.”
“Trước khi đến Phù Sinh Ký chị có biết dùng không?”
Thẩm Lệnh Nghi bưng bát của mình lên, dùng thìa múc một viên hoành thánh, thổi nhẹ, cắn một miếng. Mùi thơm thanh mát của tề thái quyện với vị ngọt lịm của thịt heo lan tỏa trong khoang miệng, nước dùng hầm từ gà thả rông, lại thêm tép moi và rong biển, ngọt thanh vừa vặn.
“Thành thật mà nói,” Thẩm Lệnh Nghi nuốt viên hoành thánh xuống, nhìn Khương Nhạn Trì, “Không biết.”

