Sau đó, tôi lại bấm mở bức ảnh doanh nhân kia ra, phóng to mặt Thẩm Trục Dã. Người trong ảnh trông gầy hơn hồi cấp ba một chút, gò má lộ rõ hơn, đường xương quai hàm sắc lẹm như dao gọt.
Khóe miệng hơi cong lên, nhưng ý cười không chạm đến đáy mắt. Đôi mắt ấy xuyên qua bức ảnh nhìn tôi, khiến tôi nhớ đến dáng vẻ anh ngồi xổm ngước lên nhìn tôi trong phòng khách sạn sáng nay.
Tôi “cạch” một tiếng gập laptop lại, vùi mặt vào lòng bàn tay.
Ôn Hạ, mày rốt cuộc đang nghĩ cái gì vậy?
***
Hai ngày tiếp theo, tôi tự nhốt mình trong phòng họp nhỏ của công ty, ngoài ăn uống và đi vệ sinh, gần như toàn bộ thời gian tôi đều dành để làm phương án.
Tôi đã xem qua toàn bộ các dự án tiêu biểu trước đây của Văn hóa Trục Dã.
Khu văn hóa sáng tạo cải tạo từ nhà xưởng cũ ở Lâm Thành, họ đã xử lý phun cát lại hệ khung thép gỉ sét rồi để lộ ra ngoài, biến nó thành yếu tố cốt lõi về thị giác trong nhà.
Quần thể homestay ở Nam Châu, họ đã biến hai mươi tư tiết khí thành hai mươi tư khoảng sân độc lập, thiết kế cảnh quan và bố cục không gian của mỗi sân đều tương ứng với sự thay đổi của thời tiết.
Còn có một dự án thiết kế không gian bưu điện thời Dân Quốc ở Phụng Thành giai đoạn đầu, giữ lại quầy giao dịch bọc tôn sắt và điện thoại quay tay năm xưa, biến đoạn lịch sử viễn thông đó thành một không gian trải nghiệm nhập vai.
Mỗi một dự án đều phát ra một tín hiệu rõ ràng: Nhóm thiết kế này không thích kiểu phô trương, phù phiếm không có cội rễ.
Họ cần những tác phẩm có thể tạo ra sự đồng điệu với lịch sử thành phố, cần những không gian có nhiệt độ, có câu chuyện, có thể khiến người bước vào cảm nhận được ký ức.
Tôi đã phân tích những case này hết lần này đến lần khác, đúc kết ra những từ khóa cốt lõi trong gu thẩm mỹ của họ: Ký ức, Nhiệt độ, Tính tự sự, Tính bản địa. Sau đó, tôi bắt tay vào làm phương án của mình.
Phụng Thành là một thành phố công nghiệp cũ, đi lên từ vận tải thủy và sản xuất cận đại. Bến tàu khu Lâm Giang từng là một trong những trung tâm thủy bộ nhộn nhịp nhất của toàn vùng Hoa Đông.
Thời Dân Quốc, trên mặt sông cột buồm san sát như rừng, hình ảnh công nhân bến tàu hô hào khẩu hiệu khuân vác hàng hóa là dấu ấn đô thị sâu sắc nhất trong lòng những người Phụng Thành xưa.
Về sau, cùng với sự trỗi dậy của đường sắt và đường cao tốc, giao thông đường thủy suy yếu, bến tàu dần bị bỏ hoang. Nhưng những nhà kho gạch đỏ, đường ray xe lửa, sà lan và lối đi lát đá dăm ven sông vẫn đứng im lìm ở đó, lặng lẽ như một nhóm cựu binh già.
Tôi muốn dùng “Ký ức” làm ý tưởng cốt lõi, nhưng không chỉ dừng lại ở sự hoài niệm. Tôi muốn những kiến trúc cũ đó sống lại trong một công năng mới.
Nhà kho bến tàu cải tạo thành bảo tàng ký ức đô thị trải nghiệm nhập vai, lối đi vào được thiết kế giống với cầu ván bến tàu năm xưa, để người tham quan khi bước lên có thể trải nghiệm cảm giác của những công nhân bến tàu cõng hàng ngày ấy.
Vách ngăn trong nhà dùng gỗ từ thuyền cũ tái chế và dây thừng bện lại với nhau, ánh sáng mô phỏng hiệu ứng phản chiếu của sóng nước trên mặt sông.
Những viên gạch lát trên quảng trường khắc lên những dấu vết mà công nhân bến tàu xưa để lại. Nghe nói nhiều năm về trước, mỗi khi khiêng xong một chuyến hàng, công nhân sẽ vạch một vết khắc lên tường hoặc xuống nền đất.
Tôi còn muốn đưa vào một số yếu tố tương tác.
Ví dụ như đặt một thiết bị âm thanh ở lối vào bảo tàng ký ức đô thị, phát lại tiếng hò dô của công nhân bến tàu, tiếng còi tàu thủy, tiếng nước sông đập vào bờ.
Tại mỗi nút giao không gian quan trọng, đặt một “Lát cắt thời gian”. Dùng tấm acrylic trong suốt phong ấn một bức ảnh lịch sử hoặc một hiện vật thực tế của bến tàu cũ, để người tham quan trong quá trình dạo bước có thể không ngừng xuyên không qua những

