Từ buổi bình minh thức giấc ở khách sạn, đến cái khoảnh khắc anh kéo tôi vào lòng né tránh thanh thép rơi trên công trường, đến chiếc áo măng tô trong vòng đu quay, đến ngọn đèn đường bên bờ sông tháng Mười hai, đến những bản vẽ, đến tấm vé tàu, cho tới tận ngày hôm nay.

Mối duyên giữa tôi và anh bắt đầu từ một buổi sáng hoảng loạn như giặc tới, ở giữa bỏ lỡ nhau 5 năm trời, rồi sau đó mới bù đắp lại bằng tất thảy những điều liên quan đến đối phương.

Sau buổi tiệc tối của đám cưới, mọi người đều đã ra về hết.

Tôi và Thẩm Trục Dã vẫn ngồi trên chiếc ghế dài ở quảng trường ven sông, trước mặt là khu phố văn hóa do chính chúng tôi cùng nhau thiết kế.

Ánh đèn vàng ấm áp men theo đường viền của những công trình kiến trúc lịch sử lần lượt sáng lên. Trong hộp lưu giữ của “Bức tường tình thư đô thị” trên quảng trường, số lượng vé tàu cũ đã vượt quá một ngàn chiếc. Có cái do các cặp đôi viết, cũng có cái do những người già viết gửi cho người bạn đời đã khuất của mình.

Tấm vé tàu của chúng tôi nằm ở tít phía trong cùng, đằng sau mặt giấy viết tên hai đứa.

Gió sông hiu hiu thổi, một con tàu chở hàng đang chầm chậm xuôi dòng từ đằng xa, tiếng còi tàu vang lên thật trầm và vang vọng.

“Thẩm Trục Dã, cái câu anh nói lúc trước ‘Còn quan trọng hơn cả bạn gái’ rốt cuộc là có ý gì?”

Tôi tựa đầu lên vai anh, đem thắc mắc cất giấu từ cái buổi sáng gặp lại nhau trong khách sạn hôm đó hỏi cho ra nhẽ.

“Nghĩa là…” anh suy nghĩ một chút, “Trước khi trở thành người anh thích, em là người duy nhất dám cãi lộn với anh. Cả lớp cả trường, Thẩm Trục Dã anh nói một không ai dám nói hai, chỉ duy nhất mình em là dám bắt bẻ lại. Hồi đó bên cạnh anh chỉ toàn là sự cung kính và lấy lòng, chỉ có em là nhìn anh bằng con mắt nhìn một con người thực sự.

Thế nên anh nghĩ, anh không thể lấy cái danh xưng ‘bạn gái’ nhẹ bẫng để đặt em vào một vị trí dễ bị công kích như vậy được. Anh phải dọn dẹp sạch sẽ mớ bòng bong phiền phức kia trước đã, rồi mới danh chính ngôn thuận bước về bên em, đường hoàng cãi nhau với em cả đời.”

Tôi ngẩng đầu nhìn góc nghiêng của anh.

Ánh đèn vàng ấm áp của quảng trường hắt lên gương mặt anh, lên hàng mi, sống mũi, và đôi môi luôn khẽ mím chặt của anh.

“Vậy bây giờ anh đã dọn dẹp sạch sẽ chưa?”

“Sạch sẽ rồi.” Anh cúi đầu nhìn tôi, trong mắt phản chiếu ánh đèn, và cả tôi nữa, “Bây giờ trong thế giới của anh, chỉ có một mình Ôn Hạ là người có quyền quyết định.”

Tôi bật cười, đưa tay nhéo má anh một cái: “Thế còn tạm chấp nhận được.”

Anh kéo tay tôi trên mặt xuống, nắm gọn trong lòng bàn tay, mười ngón đan cài.

Đằng xa xa, “Bức tường tình thư đô thị” tỏa ra ánh sáng rực rỡ, tiếng chuông của nhà kho bến tàu cũ vang lên 12 tiếng, báo hiệu một ngày mới chính thức bắt đầu.

Chúng tôi vẫn còn cả một đời để cãi nhau, sửa bản thiết kế, ăn tiểu long bao trước cổng trường, và tản bộ tiêu thực trên đường phố Phụng Thành lúc rạng sáng.

Đúng là anh ấy là Bên A, nhưng trên bản hợp đồng mang tên “Quãng đời còn lại” này, chúng tôi là Bên B duy nhất của nhau.

Và đối với Thẩm Trục Dã, từ đầu chí cuối tôi chỉ có đúng một yêu cầu.

Anh phải luôn ở bên cạnh em, giống như dòng nước sông Phụng Thành, giống như những vết khắc hàng trăm năm tuổi trên bến tàu này, vĩnh viễn không bao giờ lùi bước.