Ba năm qua, chàng xay đậu ta nhóm lửa, chàng dạy học ta bán đậu phụ.

Đêm đến chàng ôm ta, nói đợi tích cóp đủ tiền sẽ làm cho ta một đôi vòng vàng.

Ta hỏi khi nào mới đủ, chàng nói không vội, ngày tháng của chúng ta còn dài.

Hóa ra dài mãi dài mãi, rồi cũng hết.

Ta không biết mình về phòng bằng cách nào.

Chỉ biết đêm ấy, ta không dậy xay đậu nữa.

Ta vùi đầu vào chăn, ngủ một giấc trọn vẹn đầu tiên trong mấy ngày qua.

Sáng tỉnh dậy, mặt trời đã lên cao.

Trong sân trống rỗng, chiếc xe ngựa đã không còn bóng.

Ta nhìn bàn đậu phụ gần như chưa ai động đũa hồi lâu, rồi quay người thu dọn đồ đạc của mình.

Không giữ thì không giữ.

Mộc Bắc Thần không để lại cho ta một lời, ta cũng sẽ không để lại cho chàng một chữ.

Coi như ba năm này, sống cùng chó.

Đây là lần đầu ta đi xa, không biết đường, chỉ nhắm hướng bắc mà đi.

Vượt qua hai ngọn núi, trước mắt bỗng rộng mở, một con sông lớn chắn ngang.

Bên bờ đỗ bảy tám chiếc thuyền, mấy người lái thuyền đang kéo khách om sòm.

“Cô nương, đi đâu? Lên thuyền ta, nhanh lại ổn!”

Ta còn chưa kịp mở miệng, đã bị một người lái thuyền to béo kéo lên thuyền.

Sau đó là ác mộng.

Thuyền vừa chạy, ta liền say sóng.

Trời đất quay cuồng, dạ dày cuộn trào.

Ta bám vào mạn thuyền nôn suốt ba ngày, nôn hết nước vàng đến nước đắng, cuối cùng ngay cả nước đắng cũng không còn mà nôn.

Người lái thuyền thấy ta như vậy, cũng lười để ý, chỉ ném lại một câu: “Lần đầu đi thuyền à? Cố mà chịu, ngày mai là tới.”

Sáng ngày thứ tư, thuyền cập bến.

Ta vịn ván thuyền bước xuống, chân mềm như dẫm trên bông.

Xung quanh người qua kẻ lại, gánh gồng, đánh xe, rao hàng, náo nhiệt vô cùng.

“Cô nương, lần đầu đến kinh thành phải không?” Bà bán trà bên cạnh thấy ta như vậy, đưa cho ta một bát trà nóng, “Uống chút trà cho tỉnh táo.”

Kinh thành?

Ta cầm bát trà, đứng sững tại chỗ.

Không phải đi biên tái sao? Sao lại đến kinh thành?

Ba đồng tiền một bát trà, ta trả tiền, rồi theo dòng người đi vào trong thành.

Hai bên phố cửa hiệu san sát, tiệm lụa, cửa hàng trang sức, tửu lâu quán ăn, biển hiệu cái nào cũng khí phái hơn cái trước.

Ta đi nửa con phố, thấy một khách điếm, cắn răng bước vào hỏi giá.

“Phòng thượng hạng hai lượng bạc một đêm, phòng thường tám tiền.”

Tiểu nhị nhìn ta từ trên xuống dưới, ánh mắt mang theo dò xét.

Ta lùi ra, siết chặt gói hành lý.

Bạc trên người tính đi tính lại chưa đến năm lượng, tiết kiệm lắm cũng không ở được mấy ngày.

Phải tìm chỗ không mất tiền.

Ta men theo chân tường thành, chuyên chọn chỗ vắng vẻ.

Đi hơn một canh giờ, cuối cùng cũng tìm được một ngôi miếu hoang.

3

Cánh cửa miếu lệch lạc hắt ra ánh sáng vàng vọt, bên trong còn có tiếng người.

Ta chần chừ đẩy cửa, một luồng hơi nóng phả thẳng vào mặt.

Trên đất nằm la liệt người.

Không đúng, là trẻ con.

Lớn nhỏ đủ cả, toàn là những đứa trẻ chưa trưởng thành, đứa nhỏ năm sáu tuổi, đứa lớn cũng chỉ mười hai mười ba.

Chúng vây quanh một đống lửa, nghe thấy động tĩnh liền đồng loạt quay đầu lại.

Ta sững người.

Dẫn đầu là một cậu bé đen gầy, chừng mười ba mười bốn tuổi, đôi mắt đảo lia lịa.

Nó nhìn ta từ trên xuống dưới, ánh mắt dừng lại ở gói hành lý trên vai ta.

“Người từ nơi khác tới?”

Ta gật đầu.

Nó nhe răng cười, lộ ra hàm răng trắng: “Cái miếu này là địa bàn của bọn ta. Muốn ở lại, phải nộp tiền qua đường.”

Lời còn chưa dứt, mấy đứa trẻ bên cạnh đã đứng dậy, nhìn ta chằm chằm với ánh mắt hung hăng.

Ta cúi đầu nhìn mình, rồi nhìn chúng.

Sau đó ta bật cười.

Ba năm trước ta một mình đến trấn nhỏ này lập nghiệp, đâu phải loại cô nương yếu đuối.

Những kẻ lưu manh muốn chiếm tiện nghi, về sau thấy ta đều tránh xa.

“Tiền qua đường?” ta đặt gói hành lý xuống đất, ngoắc tay với cậu bé đen gầy, “Ngươi lại đây mà lấy.”

Nó sững lại, rồi cứng cổ bước lên hai bước.

Khoảnh khắc tiếp theo, nó đã bị ta vặn tay ra sau, đè xuống đất.

“Phục chưa?”

“Phục rồi phục rồi!”

Ta buông tay, phủi áo, ngồi xuống bên đống lửa.

Cậu bé xoa cánh tay đứng dậy, ánh mắt nhìn ta đã khác, vừa có chút kính sợ, lại có chút tò mò.

Những đứa trẻ khác cũng lùi lại, len lén quan sát ta.

“Bình thường các ngươi sống thế nào?”

Không ai lên tiếng.

Ta hỏi mấy lần, cậu bé đen gầy mới lẩm bẩm: “Lừa gạt, ăn trộm ăn cắp.”

Tim ta mềm đi.

Chúng cũng chỉ là không sống nổi mà thôi.

Ta mở gói hành lý, đếm số tiền đồng.

Năm lượng bạc còn hơn bốn lượng, đủ chống đỡ một thời gian.

“Đi, theo ta mua đồ.”

Ta dẫn chúng đến chợ gần nhất, mua hai khuôn đậu phụ.

Đậu phụ ở đây thật đắt, một khuôn đã ba mươi văn, đắt gấp đôi ở trấn.

Ta đau lòng đến hít khí lạnh, nhưng vẫn cắn răng trả tiền.

Về đến miếu hoang, ta sai chúng đắp bếp, nhặt củi, nhóm lửa.

Nồi thì vỡ, bát thì mẻ, nhưng khi lửa cháy lên, mắt lũ trẻ đều sáng rực.

Ta cắt đậu phụ thành miếng, dùng chút dầu ít ỏi chiên vàng hai mặt, rắc thêm chút muối.
Mùi thơm lan ra, xung quanh vang lên tiếng nuốt nước bọt.

“Đừng vội, sắp xong rồi.”

Mỗi người hai miếng, lại chan thêm chút canh.

Chúng bưng bát vỡ, ăn ngấu nghiến, nóng đến nhăn mặt cũng không chịu dừng.

Ta ngồi xổm một bên nhìn, trong lòng không nói nên lời.

Đang ăn, cửa miếu bỗng bị đẩy bật ra, một bóng đen lao vào, giật lấy nửa bát đậu phụ trước mặt ta rồi quay người chạy mất.

“Ê——”

Ta đuổi theo hai bước, bóng đen đã biến mất trong màn đêm.

Ta thở dài, phất tay.

Thôi vậy, người nghèo ở kinh thành này, quả thật quá nhiều.

Đêm đến, lũ trẻ nhường cho ta góc có nhiều rơm nhất.

Rơm khô trải dày một lớp, còn dễ chịu hơn ván gỗ trên thuyền nhiều.

Ta nằm xuống, nhìn ánh sao lọt qua lỗ thủng, thế nào cũng không ngủ được.

Đậu phụ, lại là đậu phụ.

Cả đời này, ta chỉ biết làm đậu phụ.

Nhưng đậu phụ ở kinh thành vừa đắt vừa dở, tay nghề của ta, biết đâu thật sự có thể đổi lấy miếng ăn?