Đêm đầu tiên ta trằn trọc không ngủ được, một mình ra mũi thuyền ngắm sao trời. Tạ Vô Trần bước lại gần rồi ngồi xuống bên cạnh: “Nhớ nương con rồi à?”

Ta gật đầu.

“Kể cho ta nghe xem, những năm qua nàng sống thế nào?”

Ta ngẫm nghĩ một chốc: “Tốt lắm ạ. Nhà chúng ta có một cái sân nhỏ, trồng hai cây đào, lại có một luống rau xanh. Nương biết ủ rượu, nhưng không cho con uống, nương còn biết làm gà quay nữa, chỉ có điều đường kim mũi chỉ thì vụng lắm.”

Tạ Vô Trần lặng lẽ lắng nghe.

“Còn gì nữa không?”

“Nương hay lên trấn khám bệnh cho người ta, mà lại chẳng lấy tiền, thế nên nhà con cứ nghèo mãi thôi.”

Ông ấy khẽ mỉm cười: “Nàng ngày xưa cũng thế.”

Ta quay sang nhìn ông ấy: “Người quen nương từ ngày xưa sao?”

“Quen chứ.”

“Ngày xưa nương có đẹp không?”

“Rất đẹp.”

“Thế bây giờ thì sao?”

Tạ Vô Trần ngước nhìn trời sao xa xăm: “Bây giờ vẫn đẹp.”

Ta hài lòng rồi. Ít ra thì vị phụ thân này cũng khéo ăn khéo nói phết.

Ta lại hỏi: “Sao người không đi tìm mẹ con con?”

Lần này, ông ấy im lặng rất lâu, lâu đến mức ta ngỡ ông ấy không định trả lời.

“Bởi vì ta không biết hai mẹ con ở đâu.”

“Nương không nói cho người biết sao?”

“Không có.”

“Tại sao thế ạ?”

Tạ Vô Trần cúi gầm mặt: “Vì sáu năm trước, ta đã làm sai một việc.”

Sáu năm trước, Tạ Vô Trần cùng Tô Vãn Đường cùng tiến vào Thiên Hư bí cảnh. Bí cảnh đột ngột sụp đổ. Để cứu vãn mấy vạn tu sĩ bên trong, nương đã chủ động ở lại trấn thủ vết nứt không gian. Tạ Vô Trần muốn ở lại cùng nương, nhưng nương lại một chưởng đánh ngất ông ấy rồi cưỡng ép tống ông ấy ra khỏi bí cảnh. Sau đó Thiên Hư hoàn toàn khép kín. Ai nấy đều ngỡ rằng Tô Vãn Đường đã chết rũ xương tàn.

Tạ Vô Trần một mình đứng đợi ngoài cửa vào Thiên Hư suốt ba năm ròng rã. Chẳng đợi được gì cả.

Nghe xong, ta nghiêm túc hỏi: “Nghĩa là người không hề vứt bỏ nương?”

“Không có.”

“Cũng không vứt bỏ con?”

Tạ Vô Trần nhìn ta: “Nếu ta biết có con trên đời, dù chỉ một ngày ta cũng quyết không để con phải lưu lạc bên ngoài.”

Ta nghĩ ngợi một chút rồi thò tay vào ngực áo móc ra một viên kẹo hoa quế: “Cho người nè.”

Tạ Vô Trần ngẩn ra: “Sao lại cho ta?”

“Nương làm đấy.”

Ông ấy nhận lấy, cầm rất lâu mà không nỡ ăn. Ta giục: “Người ăn đi chứ.”

Lúc này ông ấy mới cho vào miệng. Ngay sau đó, mắt ông ấy lại hoe đỏ.

Ta bắt đầu hoài nghi, vị đệ nhất kiếm tôn thiên hạ này có phải là người rất hay mít ướt không.

Trưa ngày thứ ba, phi thuyền rốt cuộc cũng tới trấn Đào Hoa. Ta phấn khích nhoài người bên mạn thuyền: “Đến rồi!”

Nhưng chỉ chớp mắt sau, nụ cười trên môi ta vụt tắt.

Phía trên trấn Đào Hoa mây đen giăng kín mịt mù. Con sông nhỏ vốn trong vắt ngoài trấn nay đã biến thành một màu đen như mực tàu. Trên đường phố chẳng bóng một bóng người.

Tạ Vô Trần biến sắc: “Vãn Đường!”

Phi thuyền đâm toạc tầng mây lao thẳng xuống. Ta còn chưa kịp mang giày chỉnh tề đã vội nhảy xuống dưới, đại sư huynh Cố Trường An nhanh tay đỡ lấy ta: “Từ từ thôi muội.”

“Nương muội!”

“Chưởng môn đã sang đó rồi.”

Ta dốc hết sức bình sinh chạy về nhà. Cổng sân mở toang, cây đào đã khô héo, dưới đất loang lổ toàn máu đen tanh tưởi.

“Nương ơi!”

Ta lùng sục khắp trong nhà ngoài ngõ, không một bóng người. Bếp lò lạnh ngắt, trên bàn còn nửa bát thuốc đã mốc meo. Ta òa khóc nức nở: “Nương ơi!”

Tạ Vô Trần đứng giữa sân, cúi người chấm một vệt máu đen dưới đất lên ngửi. Sắc mặt ông ấy càng lúc càng lạnh lẽo: “Không phải máu của nàng.”

Tiếng khóc của ta lập tức nghẹn lại: “Thật sao cha?”

“Ừ.”

Ông ấy nhặt từ dưới đất lên một mảnh lệnh bài màu đen bị vỡ vụn. Trên đó chỉ khắc duy nhất một chữ: Minh.

Vị trưởng lão bên cạnh trông thấy thì chấn động: “Minh Hà Điện ư?!”

Ta chưa từng nghe qua cái tên này bao giờ. Nhưng Tạ Vô Trần thì từ từ siết chặt nắm đấm.

Rắc! Mảnh lệnh bài trong tay ông ấy nát vụn thành tro bụi.

“Bọn chúng bắt nàng đi rồi.”

“Tại sao ạ?”

Chẳng ai đáp lời. Ta ngước nhìn Tạ Vô Trần: “Cha, sao bọn họ lại bắt nương?”

Tạ Vô Trần ngồi xổm xuống ngang tầm mắt ta: “Tuế Tuế.”

“Dạ.”

“Bởi vì nương con không phải người phàm.”

Tên thật của nương là Tô Vãn Đường. Sáu năm trước, nương từng là một trong những kỳ tài chói lọi nhất cõi Đông Hoang. Hai mươi mốt tuổi Nguyên Anh, hai mươi sáu tuổi Hóa Thần, một mình chém chết ba vị hộ pháp của Minh Hà Điện. Người đời xưng tụng nương là Vãn Đường tiên tử.

Ta nghe mà há hốc mồm: “Nương con giỏi giang thế cơ ạ?”

Diệp Minh Châu gật đầu: “Vô cùng lợi hại.”

“Lợi hại hơn cả cha sao?”

Xung quanh bỗng dưng im lặng. Ta hiểu ngay: “Lợi hại hơn cả cha rồi.”

Tạ Vô Trần: “…”

Ngũ sư huynh không nhịn được chêm vào: “Sáu năm trước quả thật là…” Đại sư huynh một cước đá văng huynh ấy sang một bên.

Thế nhưng thân phận thực sự của Tô Vãn Đường vẫn chưa dừng lại ở đó. Nương xuất thân từ một cổ tộc đã biến mất từ mấy ngàn năm trước: Thủ Giới tộc. Tộc Thủ Giới trời sinh có thể nhìn thấu khe nứt không gian, đồng thời sở hữu năng lực vá lại các vết rách này. Sáu năm trước Thiên Hư sụp đổ vốn chẳng phải là chuyện ngẫu nhiên, mà do có kẻ muốn mở thông đạo nối liền với vực ngoại. Nương đã phong ấn nó lại, nhưng cái giá phải trả chính là toàn bộ tu vi cùng thọ nguyên của mình.

Ta nắm chặt vạt áo: “Bệnh của nương có chữa được không?”

Không một ai đáp lời ngay. Lòng ta chùng xuống từng chút một: “Có chữa được không ạ?”

Diệp Minh Châu ngồi xuống trước mặt ta: “Được chứ.”

Ta ngước mắt: “Thật không tỷ?”

“Thật mà.” Tỷ ấy xoa đầu ta: “Sư tỷ là một trong những luyện đan sư giỏi nhất Đông Hoang đấy, nương muội chết không nổi đâu.”

Ta thở phào một hơi. Mãi sau này ta mới biết, lúc đó căn bản chẳng ai biết có cứu được hay không, họ chỉ không nỡ để ta phải khóc mà thôi.

Chúng ta tìm thấy một đóa hoa đào ở sau núi. Trong cánh hoa có phong ấn một luồng linh lực nương lưu lại. Tạ Vô Trần khẽ chạm tay vào, giọng nói của Tô Vãn Đường tức thì truyền ra:

“Tạ Vô Trần, nếu là chàng tìm đến đây, nghĩa là Tuế Tuế đã lên núi rồi.”

“Thay thiếp chăm sóc tốt cho con bé.”

Sắc mặt Tạ Vô Trần sa sầm xuống.

“Đừng đến cứu thiếp.”

“Minh Hà Điện bắt thiếp là để mở ra Thiên Hư.”

“Bọn chúng không biết rằng kẻ thực sự có thể mở ra Thiên Hư không phải là thiếp.”

“Thế nên, ngàn vạn lần đừng để Tuế Tuế lại gần Minh Hà.”