Ông cầm tờ giấy nợ xem hồi lâu, hỏi: “Với bố mà con cũng tính toán rạch ròi thế à?”

“Tính rạch ròi, con tiêu mới yên tâm.”

Ông cất giấy nợ vào ngăn kéo, tháng thứ hai bắt đầu nhận tiền theo đúng tài khoản tôi đã ghi. Miệng thì trách tôi khách sáo, nhưng lần nào tiền vào tài khoản cũng nhắn lại một chữ “Đã nhận”.

Lúc nhận bàn giao nhà mới, bố mẹ tôi ngồi tàu hỏa trắng đêm đến.

Bố cầm thước dây, đo từ cửa ra vào đến ban công, phát hiện bàn ăn dài ra 8 phân, quay lưng định đi tìm cửa hàng cãi lý. Mẹ tôi chê rèm cửa phòng ngủ chính màu lạnh quá, hôm sau tự bắt xe buýt ra chợ vải, lúc về còn mua thêm ba cái bát.

“Một cái cho con, hai cái cho bố mẹ.” Bà giải thích xong, lại thấy không đúng. “Sau này nếu con có người phù hợp, thì mua thêm. Không có cũng đừng vội mua, bát để lâu bám bụi.”

Ba người chúng tôi ngồi ăn cơm hộp trong phòng khách vẫn chưa bay hết mùi sơn mới. Không có nam chủ nhân, cũng chẳng có ai ngồi ghế chủ tọa. Bố tôi ngồi xổm dưới đất kiểm tra ổ cắm, mẹ lấy giấy ăn lau những chiếc bát vừa bóc vỏ, còn tôi phụ trách chia thức ăn cho cả ba.

Tối hôm đó, bố mẹ ngủ ở phòng dành cho khách. Tôi tắt đèn phòng khách, trở về phòng ngủ chính, lần đầu tiên cảm nhận được rằng sự trọn vẹn của một ngôi nhà không phụ thuộc vào việc có chừa sẵn chỗ cho một người đàn ông nào đó hay không.

Thỉnh thoảng mẹ tôi vẫn thăm dò hỏi xem có ai phù hợp chưa.

Có lần tôi bực mình, hỏi vặn lại: “Con một mình về quê ăn Tết không được sao?”

Bà sững lại, hôm sau gửi cho tôi một bức ảnh ga giường mới mua.

“Được. Mẹ thay ga mới cho phòng con rồi. Sau này có đưa ai về hay không, tự con quyết định.”

Trong một năm qua, tôi không gặp được người đàn ông hoàn mỹ nào từ trên trời rơi xuống, cũng không vì thất tình mà bỗng nhiên lột xác thành người khác.

Tôi vẫn sẽ mềm lòng, nhìn thấy cuộc gọi nhỡ của mẹ Chu Tự, sẽ có vài giây định bắt máy. Tôi cũng vẫn thù dai, mỗi lần tiền thi hành án chuyển chậm một ngày, tôi lại bảo luật sư gửi trát hối thúc theo đúng quy trình.

Nhưng tôi không còn ứng trước hậu quả thay cho người khác nữa.

Ngày 26 tháng Chạp, tôi nhận được khoản thi hành án cuối cùng.

Cùng ngày, Chu Tự dùng số điện thoại mới nhắn tin, nói muốn gặp tôi lần cuối.

Vốn dĩ tôi không định đi.

Nhưng sau đó anh ta nhắn thêm một câu: “Đồ em để quên ở nhà anh, anh mang trả em.”

Trong ảnh là một chiếc hộp gỗ, đựng chiếc vòng bạc mà bà ngoại để lại cho tôi. Hai năm trước lúc chuyển nhà tìm không thấy, tôi cứ tưởng đã mất rồi.

Tôi hẹn gặp ở quán cà phê tầng một của một trung tâm thương mại, và báo trước thời gian, địa điểm cho chị họ.

Chu Tự đến từ rất sớm.

Anh ta mặc chiếc áo khoác đen mà trước đây tôi chọn cho, cổ tay đã sờn bóng. Con người anh ta không có thay đổi gì lớn, chỉ là cái thói quen trước khi nói phải nhìn sắc mặt tôi thì không còn nữa.

Anh ta đẩy chiếc hộp gỗ qua.

“Mẹ anh dọn tủ mới tìm thấy.”

Tôi mở ra xem một cái, rồi đóng lại.

“Cảm ơn.”

“Em mua nhà rồi à?”

“Ừ.”

“Nghe nói em được thăng chức.”

“Ừ.”

Anh ta mân mê tách cà phê, hồi lâu mới hỏi: “Anh với Khương Nghiên chia tay rồi. Đứa bé cũng không giữ được.”

Tôi không tiếp lời.

Đây không phải là món nợ cũ của tôi, cũng chẳng phải quả báo mà tôi hằng mong đợi.

Anh ta nói tiếp: “Sau này anh từng nghĩ, nếu hôm đó anh không để điện thoại bên ngoài, nếu cô ấy không nhắn tin cho anh, thì có lẽ bây giờ chúng ta đã kết hôn rồi.”

“Có thể.”

“Em không thấy tiếc sao?”

“Tiếc chứ.”

Trong mắt anh ta như bỗng lóe lên một tia sáng.

Tôi cất chiếc hộp gỗ vào túi xách.

“Tiếc là tôi phát hiện quá muộn. Nếu phát hiện sớm hơn một năm, tôi đã đỡ phải cho anh mượn 18 vạn.”

Tia sáng trên mặt anh ta vụt tắt.

“Hứa Tri Dao, bây giờ em nói chuyện cứ phải tổn thương người khác như vậy sao?”