Cầm tờ giấy mỏng manh ấy trên tay, tôi chợt nhớ đến tờ giấy báo trúng tuyển bị Chu Kiến Hoa ném vào bếp lửa bốn năm trước.
Anh ta nghĩ rằng đốt một tờ giấy là có thể thiêu rụi tiền đồ của tôi.
Nhưng giờ đây, tên tôi không chỉ được ghi trên bằng tốt nghiệp, mà còn được in trên tài liệu phụ đạo môn Ngữ văn cho học sinh nông thôn do tỉnh mới biên soạn.
Bốn năm đại học này chẳng hề nhàn nhã.
Năm thứ nhất, Tiểu Mãn ở lại với bà ngoại. Mỗi tuần tôi viết thư về, mỗi tháng gửi về một nửa số tiền trợ cấp học tập. Cứ đến kỳ nghỉ đông nghỉ hè, tôi lại bắt chuyến tàu chậm nhất để về nhà.
Đến năm thứ hai, nhà trường biết được hoàn cảnh của tôi, đã giúp tôi liên hệ cho Tiểu Mãn vào học tại trường tiểu học thực hành của trường. Tôi thuê một căn phòng chưa đầy mười mét vuông ngoài trường, ban ngày đi học, tối về nấu cơm, kèm Tiểu Mãn học bài.
Có người hỏi tôi có mệt không.
Đương nhiên là mệt chứ.
Nhưng cái mệt đó khác hẳn với những ngày sống ở nhà họ Chu.
Ngày trước, tôi thức đêm tổng hợp tài liệu ôn tập cho Chu Kiến Hoa, nhìn anh ta lấy đi tâm huyết của mình, chỉ thấy cuộc sống của mình một màu đen tối không lối thoát.
Còn bây giờ, mỗi khi đọc xong một cuốn sách, viết xong một bài văn, tôi đều biết mình đang tiến gần hơn một bước đến cuộc sống mà tôi hằng mong muốn.
Tiểu Mãn cũng không bao giờ hỏi tôi rằng liệu mẹ có bỏ rơi con nữa hay không.
Con bé biết, mẹ đi học đại học, không phải để trốn chạy khỏi nó.
Mà là để đưa nó rời khỏi nơi không có quyền lựa chọn đó.
Khi phân công công tác sau tốt nghiệp, nhà trường vốn định giữ tôi lại thủ phủ tỉnh.
Nhưng tôi chủ động xin về trường cấp 3 huyện giảng dạy.
Trưởng khoa có chút không hiểu.
“Thẩm Thu Hòa, thành tích của em rất xuất sắc, ở lại tỉnh thành sẽ có cơ hội phát triển tốt hơn.”
Tôi mỉm cười đáp:
“Em đi ra từ nông thôn, em biết ở đó có bao nhiêu cô gái không phải là không biết học, mà chỉ là không có ai nói cho họ biết rằng họ vẫn có thể tiếp tục học.”
“Em muốn trở về.”
Nhà trường tôn trọng quyết định của tôi.
Trường cấp 3 huyện không chỉ bố trí cho tôi biên chế giáo viên chính thức, mà còn phân cho tôi một căn phòng trong khu tập thể. Hộ khẩu và học bạ của Tiểu Mãn cũng có thể chuyển về cùng.
Cuối cùng tôi cũng có một mái nhà thực sự thuộc về chính tôi và con gái.
Khi bước ra khỏi hội trường, trong khuôn viên trường đâu đâu cũng thấy sinh viên tốt nghiệp đang chụp ảnh.
Tiểu Mãn nắm tay tôi, dọc đường ríu rít hỏi bao giờ mẹ con mình được dọn vào nhà mới.
Đi đến cổng trường, con bé đột nhiên khựng lại.
“Mẹ ơi, người kia có phải là bố không?”
Tôi nhìn theo hướng ngón tay con bé chỉ.
Chu Kiến Hoa đang đứng dưới gốc cây ngô đồng.
Bốn năm không gặp, anh ta già đi trông thấy. Bộ đồ Tôn Trung Sơn trên người bạc màu vì giặt nhiều, dưới chân là một chiếc túi du lịch cũ kỹ.
Có vẻ như anh ta đã đứng đợi rất lâu.
Trên tóc và vai vương đầy bụi bặm.
Kiếp trước, tôi cũng từng dắt Tiểu Mãn đứng trước cổng trường đại học của anh ta.
Lúc đó Tiểu Mãn đang sốt cao, tôi ôm trong người số tiền vé xe vay mượn, ngồi tàu hỏa ròng rã suốt một ngày một đêm, chỉ để cầu xin anh ta ký tên vào hồ sơ nhập học của con gái.
Nhưng Chu Kiến Hoa đứng cách cánh cổng trường bảo tôi rằng anh ta đang tìm hiểu một cô gái trên phố.
Anh ta bảo tôi đừng nói mình là vợ anh ta, cũng đừng để Tiểu Mãn gọi anh ta là bố.
“Khó khăn lắm anh mới đứng vững được ở thành phố này, mẹ con em đừng đến làm gánh nặng cho anh.”
Ngày hôm đó, tôi và Tiểu Mãn đứng chờ từ sáng đến tối mịt.
Anh ta không bao giờ bước ra nữa.
Giờ đây, cách nhau bởi cùng một cánh cổng trường, người đứng bên trong đã đổi thành tôi.
Chu Kiến Hoa nhìn thấy hai mẹ con, mắt sáng rực lên, rảo bước đi tới.
“Thu Hòa.”

