Cuối cùng, Vệ Lăng Tiêu vẫn gắng gượng khép nắp quan tài cho ta, lưu luyến tiễn biệt.

Linh cữu ra khỏi cửa ải, xe ngựa lắc lư suốt đường về nam, ngày đêm không nghỉ, mãi đến một trạm dịch hoang tàn nào đó.

Trong sân hoang, Ôn Cảnh vất vả cạy nắp quan tài ra. Nữ tử bên trong sắc mặt hồng hào, nhưng lại không có một tia hô hấp.

Hắn đợi đến khi mặt trời ngả về tây, ta mới ho khẽ một tiếng, chậm rãi tỉnh lại.

Bầu trời rực rỡ, ánh chiều đột ngột khiến ta cảm thấy hơi chói mắt. Ta nhìn gương mặt quen thuộc lộ ra phía trên, mỉm cười nói:

“Ca ca, huynh đến đón muội rồi.”

Ôn Cảnh nhíu mày, một tay kéo ta từ trong quan tài dậy, ghét bỏ nói:

“Ôn Hành, muội lại giở trò quỷ gì nữa?”

Ta chống tay vào quan tài đứng dậy, nóng lòng cùng hắn lên xe ngựa, hỏi hắn có mang đủ lộ phí bạc tiền chưa?

“Đủ rồi.”

Ôn Cảnh oán trách nói, mấy hôm trước nhận được mật thư của ta bị dọa một phen, nhưng vẫn theo bố trí của ta mà chuẩn bị sẵn sàng. Sau đó trong nhà quả nhiên nhận được tin ta chết.

Phụ thân và nương khóc đỏ cả mắt, hắn theo lời ta dặn, đưa nương ta đến trang tử dưỡng bệnh, nói cho bà biết ta sẽ đến tìm bà.

“Nay cả thiên hạ đều tưởng muội chết rồi, ngoại trừ ta và di nương biết chuyện—”

“Muội bảo ta giấu phụ thân, lừa di nương ra ngoài, rốt cuộc trong hồ lô của muội bán thuốc gì vậy?”

Tiếng vó ngựa lộc cộc, hắn vừa đánh xe vừa lẩm bẩm, như nhớ ra điều gì liền kinh hãi kêu lên.

“Ôn Hành, muội không phải đã phạm tội lớn xét nhà diệt tộc gì ở kinh đô, rồi giả chết chạy trốn đấy chứ?”

Ta ngoáy ngoáy tai, hồi nhỏ sao không thấy hắn lắm lời như vậy nhỉ.

“Suỵt — chuyện này nói ra rất dài, trước hết đừng ồn, chúng ta một đường về nam.”

Trời cao mây nhạt, gió mát chim kêu, mây cuộn mây tan, vạn vật dịu dàng.

Ta đón gió nhắm mắt lại. Đây chính là tự do, là tự do nương từng nói, mà chúng ta cuối cùng cũng sẽ đoàn tụ.

36

Nương ta sống ở phía nam mây ngũ sắc — còn gọi là Điền Châu.

Bà là một nữ tử hái thuốc, ngày lên ngày xuống, tìm kiếm danh dược trong quần sơn mênh mang.

Năm ấy, bà gặp một nam tử rơi xuống vách núi, toàn thân lấm lem bùn đất, trên người không có vật gì.

Nam tử bị sơn tặc chặn đường, lại mất trí nhớ quên lối về, không nơi nương tựa.

Đó là một thanh niên văn nhã lễ độ, ôn nhuận như ngọc. Còn bà cũng là thiếu nữ như phù dung mới nở, tâm trong như lan.

Mấy tháng sớm chiều chung sống, bọn họ định tình cả đời, tổ chức hôn lễ trong trại.

Nhưng về sau, thân tín trong tộc nam tử báo quan phủ, có người đến tìm, hắn dần nhớ lại tất cả.

Nam tử là người Chương An, văn nhân mặc khách có tiếng, chính là phụ thân ta — Ôn Nhược Hành.

Phụ thân áy náy muôn phần, trong nhà sớm đã có thê thất, nhưng lại không nỡ bỏ giai nhân như hoa trước mắt.

Nương mang thai, chỉ do dự một lát liền quyết định theo ông về Chương An.

Từ nhỏ bà sống tự do tự tại nơi thôn dã, nào hiểu được đấu đá quanh co trong nhà cao cửa rộng. Mỗi khi ngồi một mình nơi khuê phòng, bà luôn rơi lệ nhớ quê.

Phụ thân đến tìm bà, nguyên phối phu nhân khóc lóc ầm ĩ không thôi, bà cũng áy náy khó chịu, liền cự ông ngoài cửa.

“Dù thế nào, là chàng và phát thê có lời thề trước. Cho dù chàng nhất thời quên nàng, cũng là ta đến sau mà chen vào.”

“Nàng là phụ mẫu chi mệnh, môi chước chi ngôn, chàng nên cho nàng thể diện.”

“Là chúng ta có lỗi với nàng, cũng là ta không hỏi rõ đã bất chấp tất cả định chung thân với chàng.”

Khi đó, nương tuy xuất thân áo vải, nhưng cũng biết lễ nghĩa liêm sỉ.

Sự dịu dàng rộng lượng của bà, đổi lại chỉ là gối lạnh đêm dài, nước mắt thấm khăn tay áo.

Nơi ở cũ của nương nằm trên một ngọn núi lê. Đến Chương An, bà cũng trồng đầy loại hoa này trong viện.

Ngày ta cất tiếng khóc chào đời, lê hoa đầy vườn trắng như tuyết rực rỡ, ráng chiều lộng lẫy.

Thuở nhỏ, mỗi lần nhìn thấy nương ngồi khô gầy dưới gốc lê đối nguyệt, ta đều rất khó hiểu.

Đã nhớ trời cao bát ngát ấy, nhớ Thương Sơn Nhĩ Hải, nhớ rừng núi mây mù, vì sao còn phải giam mình trong tiểu viện hẻo lánh này, đợi một người sẽ không trở lại?

Bà xoa đầu ta, dịu dàng nói:

“Bởi vì nương có con đó, A Hành. Nương mong con có đủ cả cha lẫn mẹ.”

“Ở đây, con có thể áo gấm cơm ngọc, đọc sách biết chữ, con là nữ nhi của văn nhân sĩ tử, không phải thôn cô nơi đồng nội.”

Nhưng ta nghĩ, trong lòng bà còn có một lý do nữa, chính là bà không nỡ xa phụ thân.

Dẫu chỉ xa xa nhìn một lần, gang tấc mà trời vực, cũng đã tốt rồi.

37

Ta và nương trở về cố cư của bà dưỡng bệnh, quả thật là một nơi non xanh nước biếc, địa linh nhân kiệt.

Nơi đây núi non uốn lượn, rừng rậm quanh co, rất hiếm có dấu chân người ngoài.

Quanh căn nhà trúc cũ, ta rải đầy hạt giống Đỗ Hành thơm ngát, để chúng tự sinh trưởng. Xung quanh nhà trúc là từng mảng lớn cây lê trắng như tuyết. Thu vàng sắp đến, quả chín trĩu đầy cành.

Chúng ta xuống suối bắt cá, vào núi hái thuốc. Bốn mùa luân chuyển, sắc mặt nương tốt lên rất nhiều.

Ôn Cảnh thường gửi thư cho ta. Nghe nói đã xảy ra hai chuyện lớn, triều dã chấn động.