Ngày đại hôn, vừa bước chân ra khỏi hoa kiệu, bài vị của Cố tiểu tướng quân đã bị nhét thẳng vào tay ta.

Đến lúc này ta mới hay, kiệu hoa đã bị hoán đổi, ta phải thay muội muội song sinh gả vào Cố gia.

Kiếp trước, ta lập tức giật phăng khăn trùm đầu trước mặt bàn dân thiên hạ, đòi đổi lại hôn sự cho đúng người.

Nhưng đổi lại chỉ là cái danh bất kính với trung liệt, bại hoại phụ đức.

Vị hôn phu Bùi Chiêu chối từ không nhận, phụ mẫu cũng chê ta làm mất mặt gia môn, ngay trong đêm đã áp giải tống ta vào am ni cô.

Không chịu nổi nỗi nhục nhã ê chề ấy, cuối cùng ta thắt cổ tự vẫn trên xà nhà.

Mở mắt ra lần nữa, ta vẫn đang ngồi ngay ngắn trong chiếc hoa kiệu nọ.

Tiếng chiêng trống vang trời rộn rã, ta ôm thật chặt bài vị vừa được đưa tới tay.

Cứ chờ đó, chẳng quá một tháng, ta nhất định sẽ khiến Cố gia tru di cửu tộc.

Cả Bùi gia lẫn Thẩm gia, không một kẻ nào chạy thoát!

1.

Thấy ta suốt dọc đường ngoan ngoãn im lìm, bà mối mới thở phào một hơi nhẹ nhõm.

Bà ta hẳn đã sớm biết mối hôn sự này có khuất tất, chỉ sợ đến trước cửa Cố phủ ta lại giở chứng làm loạn.

Ta không cho bà ta cơ hội ấy, cứ thế ôm bài vị bước qua chậu than, theo chân bà ta tiến vào chính môn Cố gia.

Khách khứa hai bên vỗ tay không ngớt, những lời bàn tán xì xào cũng nối nhau lọt vào tai ta:

“Thẩm nhị cô nương quả là người trọng tình trọng nghĩa!

Cố tiểu tướng quân vì nước hy sinh nơi sa trường, đến thi thể cũng chẳng đưa về được, vậy mà nàng vẫn chịu ôm bài vị bước qua cửa, khắp kinh thành này tìm đâu ra người liệt phụ thứ hai như thế.”

“Tiếng thơm thì có ích gì chứ?

Gả vào đây coi như phải thủ tiết cả đời, đổi lại là ai e rằng cũng chẳng chịu nổi.”

“Là chính nàng ta tự nhận lấy mối hôn sự này, đằng nhà mẹ đẻ can ngăn cũng không được.

Chiếu theo lệ cũ, nữ tử trinh liệt bực này sau này ắt sẽ được triều đình ban dựng bài phường tiết hạnh.”

Bọn họ bàn tán rôm rả, ta nghe mà chỉ thấy nực cười.

Đời trước, chính tại nơi này, ta đã xé toang khăn voan đỏ, phân bua rõ ràng trước mắt mọi người rằng ta không phải “Thẩm Minh Châu”, mà là “Thẩm Thanh Y” vốn dĩ phải gả sang Bùi gia.

Ta năm lần bảy lượt van nài Cố gia rằng kiệu hoa đã bị kẻ gian tráo đổi, xin họ lập tức đưa ta quay về.

Thế nhưng cả sảnh đường tân khách chẳng một ai tin ta, người Cố gia càng chỉ thẳng vào mặt ta mà mắng nhiếc, nói ta đã nhận thánh chỉ tứ hôn mà đến cửa lại lâm trận hối hôn, vừa làm nhục vong linh trung liệt, vừa phạm vào đại tội khi quân.

Bọn họ sai người trói ghim ta lại, nhét ngược vào kiệu hoa rồi khiêng trả về Thẩm phủ.

Chiếc kiệu ấy đến nửa bước cũng chưa kịp chạm vào bậu cửa Thẩm gia.

Phụ mẫu cách một cánh cổng khép chặt đã khăng khăng định tội ta là “Thẩm Minh Châu”, mắng ta ngày xuất giá dám giở thói đổi ý, làm bại hoại gia phong, rồi lệnh cho gia đinh áp giải ta suốt đêm ra am ni cô ngoài thành.

Khi ấy ta ngây thơ ngỡ rằng Bùi Chiêu chỉ bị kẻ khác che mắt, liền vét sạch số bạc vụn cuối cùng trên người nhờ người đưa thư, mong hắn đến cứu mạng.

Hắn quả nhiên có đến, nhưng bên cạnh lại dắt theo đứa muội muội đã cướp đoạt thân phận của ta.

Hai kẻ đó chàng chàng thiếp thiếp, ân ái mặn nồng chẳng khác nào một đôi tân hôn phu thê.

Bùi Chiêu đứng trước mặt tăng chúng trong am mà mắng mỏ ta thậm tệ, bắt kẻ “vọng tưởng hão huyền” là Thẩm Minh Châu như ta phải an phận thủ thường, chớ có tiếp tục bám riết lấy hắn.

Mãi tới giây phút ấy ta mới bừng tỉnh: Từ chuyện tráo kiệu cho đến bước đường bị đày vào am, tất cả đều là một màn kịch do bọn họ đồng mưu bày ra để lừa ta.

Về sau, ta bị treo cổ lên xà nhà, nuốt hận mà đứt hơi tàn.

Ông trời đã rủ lòng thương cho ta làm lại một kiếp, thì ba nhà Cố, Thẩm, Bùi, món nợ này đều phải trả đủ.

Nghi lễ bái đường chẳng mấy rườm rà.

Bà mối đỡ ta lạy tạ trời đất, cao đường và bài vị mỗi bên một lạy, rồi dắt ta vào động phòng.

Khắp phòng giăng hoa kết lụa đỏ thắm, nến long phụng cháy sáng rực rỡ, bên cạnh chăn gấm rải đầy táo đỏ, đậu phộng, long nhãn cùng hạt sen.

Bên ngoài tiệc tùng huyên náo, chén thù chén tạc, tiếng cười nói rộn rã vọng qua khe cửa.

Một người sống ôm bài vị thành thân, bọn họ lại mừng rỡ đến thế kia đấy.

2.

Sáng sớm hôm sau, trời vừa hửng sáng ta đã trở dậy rửa mặt chải đầu.

Ta chọn một bộ bối tử nhã nhặn, trên tóc chỉ cài độc một chiếc trâm bạc, dáng vẻ đoan trang thuần khiết vô ngần, rồi theo nha hoàn đến chính sảnh.

Cố mẫu đã an tọa ở ghế trên, ta vừa bước vào liền quỳ sụp xuống bồ đoàn:

“Nhi tức thỉnh an mẫu thân.”

Nha hoàn dâng trà tới, ta nâng chén bằng cả hai tay, kính cẩn đưa đến trước mặt bà.

Cố mẫu dò xét ta từ đầu đến chân, nhưng mãi vẫn không chịu đưa tay nhận lấy.

Chờ đến khi hai cánh tay ta mỏi nhừ, nước trà khẽ sóng sánh, bà mới thong thả đón lấy chén trà.

“Đứng lên đi, quả là một đứa trẻ biết lễ nghĩa phép tắc.”
Bà nhấp một ngụm trà, sắc mặt rốt cuộc cũng hòa hoãn lại đôi phần.

“Hành Chu từ nhỏ đã hiểu chuyện, chỉ tiếc phận mỏng mệnh bạc, không thể cùng con kết tóc se duyên thành phu thê trọn vẹn.”

“Người đã chẳng còn, con vẫn giữ trọn hôn ước mà bước vào cửa, người làm mẹ như ta thật sự trong lòng áy náy khôn nguôi.”

Ta lập tức quỳ sụp xuống lần nữa, giọng nói run rẩy nghẹn ngào như đang cố kìm nén bi thương tột cùng:

“Mẫu thân ngàn vạn lần đừng nói vậy, nhi tức có thể gả vào Cố gia, ấy là phúc phận của nhi tức.”

“Tướng quân vì nước hy sinh, con đã bước qua ngưỡng cửa này thì nguyện cả đời thủ tiết vì chàng.”