Chương 4
“Hay cho một Cố Hành Chu, hay cho một Cố gia đời đời trung liệt!”
Thánh chỉ lập tức được ban bố: Toàn bộ Cố Hành Chu cùng bè lũ đồng đảng phải bị bắt quy án, giao cho tam ty cùng nhau thẩm lý.
Thống lĩnh cấm quân lĩnh mệnh, dẫn binh mã bao vây chặt chẽ Cố phủ.
Phụ mẫu Cố gia bị ấn quỳ rạp giữa sân, kẻ ăn người ở khóc lóc thảm thiết, toàn bộ sổ sách, thư tín cùng vàng bạc châu báu đều bị khiêng ra ngoài để kiểm kê từng món một.
Quân cấm vệ lại lục soát được dưới đáy rương y phục của Cố Hành Chu vài bộ y phục của quý tộc nữ tử Bắc Địch, tay áo hẹp chiết eo, hoa văn thêu hình sói đặc trưng của phương bắc, rõ ràng không phải đồ của nữ quyến Cố gia.
Vật chứng dâng lên trước mặt hoàng thượng, Cố gia hoàn toàn hết đường chối cãi.
Vợ chồng Cố thị ban đầu còn cắn chặt răng không chịu khai ra tung tích của con trai.
Nhưng sau khi dùng hình, Cố mẫu là kẻ đầu tiên không chịu nổi đòn roi, đành phải khai ra việc Cố Hành Chu cách đây không lâu có truyền tin về, nói mình đang ở Thanh Châu, cùng người phụ nữ kia giả làm đôi phu thê thương buôn đi du sơn ngoạn thủy.
Thanh Châu cách kinh thành chưa đầy năm trăm dặm, hoàng đế lập tức hạ lệnh cho quan phủ địa phương phối hợp với cấm quân vây bắt.
Ba ngày sau, cỗ xe tù áp giải Cố Hành Chu tiến vào kinh thành.
Ta trà trộn trong đám đông, đứng nhìn cỗ xe ấy chầm chậm lăn bánh từ đầu phố bên kia lại gần.
Kẻ ngồi trong lồng gỗ mặc bộ tù phục xám xịt rách rưới, tóc tai bù xù, trên mặt còn vương những vết thương mới toanh.
Hắn đờ đẫn đưa mắt nhìn ven đường, vừa vặn chạm phải ánh mắt của ta.
Ta cách một bức tường người khẽ mỉm cười với hắn, mấp máy môi không thành tiếng hai chữ:
“Báo ứng.”
Cố Hành Chu trợn trừng hai mắt, lao thắt người về phía chấn song gỗ, há miệng gào thét điên dại.
Tên lính áp giải vung một gậy giáng thẳng xuống lưng hắn, khiến hắn ngã gục ngay tại chỗ.
Bách tính đứng vây xem xôn xao phẫn nộ, kẻ thì chửi rủa hắn là phường vong ân phản quốc, người lại thở dài tiếc nuối cho Cố gia mấy đời tòng quân, chẳng ngờ lại nuôi dạy ra một nghịch tử nhơ nhuốc dường này.
7.
Thực ra, ngay từ đầu ta đã biết Cố Hành Chu chưa hề chết.
Kiếp trước, khi phụ mẫu tống ta vào am ni cô, họ đã đặc biệt dặn dò lão ni cô quản sự không cần phải đối đãi tử tế với ta.
Kể từ đó, việc gánh nước, bửa củi, quét tước đều đổ dồn lên một mình ta gánh vác, ngày nào làm không xong thì ngày đó nhịn đói.
Có một lần ta ra núi sau gánh nước, tình cờ trông thấy Cố Hành Chu cưỡi chung một con ngựa với một nữ tử, thong thả đi qua con đường mòn trên núi.
Nữ tử kia mày sâu mắt thẳm, trang phục hoàn toàn khác biệt với người Trung Nguyên.
Cố Hành Chu nghiêng đầu trò chuyện cùng ả, trên mặt nở nụ cười mà ta chưa từng thấy bao giờ, hai người nép sát vào nhau, tình tứ hệt như một đôi phu thê thực thụ.
Ta nghe ngóng khắp nơi mới biết ả chính là công chúa Ô Lan Châu của Bắc Địch, theo đoàn sứ thần nghị hòa tiến vào kinh thành.
Cố Hành Chu căn bản không hề tử trận.
Hắn mượn cớ chiến sự để giả chết đào tẩu, mục đích chính là rũ bỏ Cố gia cùng mối hôn ước trói buộc, để cùng Ô Lan Châu kết tóc se duyên.
Khi ấy ta vẫn chưa nhìn thấu dã tâm độc ác của ba nhà, vừa phát hiện ra đại sự kinh thiên này, ý nghĩ đầu tiên nảy ra vẫn là cầu xin phụ mẫu đến cứu ta, đồng thời mong họ đem chuyện Cố Hành Chu thông địch phản quốc báo lên quan phủ.
Phụ thân vội vã chạy đến am ni cô, nghe xong liền mắng ta vuốt mặt không kịp, bảo ta thủ tiết đến mức phát điên, dám thêu dệt nên những lời lẽ hoang đường nhằm bôi nhọ trung liệt.
Mẫu thân chỉ biết khóc lóc, một mực nói ta mắc bệnh tâm thần, liền gọi lang trung kê mấy thang thuốc an thần, ép ta mỗi ngày đều phải uống cạn.
Ta lại nhờ người gửi thư cho Bùi Chiêu.
Hắn tìm đến am ni cô, nhưng bên cạnh vẫn mang theo Thẩm Minh Châu.
Hai kẻ đó sỉ nhục ta trước mặt mọi người, đinh ninh rằng ta vì không cam lòng bị ruồng bỏ nên mới ăn nói xằng bậy.
Nhưng dẫu có rơi vào bước đường cùng ấy, ta cũng chưa từng có ý định tự vẫn.
Cái chết bằng một dải lụa trắng kia, thực chất là do Cố gia nghe ngóng được phong thanh nên đã phái sát thủ tới giết người diệt khẩu.
Kẻ đó siết cổ ta từ phía sau cho đến chết, rồi mới treo thi thể ta lên xà nhà, ngụy tạo thành cảnh ta uất ức mà tự tận.
Mối thù giết ta, chỉ có thể để toàn bộ Cố gia đền mạng mới thỏa.
Cuối cùng, Cố Hành Chu phạm tội thông địch phản quốc, Cố gia biết rõ con trai còn sống mà vẫn bao che giấu giếm, hoàng đế phán quyết toàn bộ nam đinh Cố thị chém đầu thị chúng, nữ quyến sung vào quan tịch, gia sản tịch thu toàn bộ.
Hoàng đế niệm tình ta chủ động dâng nộp bằng chứng phạm tội, lại biết lấy đại cục quốc gia làm trọng, chuẩn cho ta hòa ly với Cố Hành Chu, khôi phục lại thân phận tự do, lại ban thưởng phong hiệu “An Nghĩa Huyện chủ”, cùng vô số ruộng đất, trạch viện, vàng bạc lụa là.
Ta quỳ gối tiếp chỉ, trịnh trọng hành đủ đại lễ tam quỳ cửu khấu.
Cố gia đã trả xong món nợ máu này.
Kế tiếp, sẽ tới lượt Thẩm gia và Bùi gia.
8.
Rời khỏi Cố phủ, ta dọn vào ở tại Huyện chủ phủ do hoàng đế ban tặng.
Bổng lộc bệ hạ ban thưởng, của hồi môn vốn có, cộng thêm số ngân phiếu và khế ước nhà đất mà hai nhà Thẩm, Bùi giao nộp trước kia, đã đủ để ta sống sung túc an nhàn suốt cả đời.
Nửa tháng sau đó, ta chuyên tâm vào việc đối chiếu sổ sách, thu tiền thuê nhà, kiểm tra các gian cửa tiệm.
Thế nhưng thiệp mời từ Thẩm gia cứ dồn dập gửi tới hết phong này đến phong khác.
Họ nói một nữ tử hòa ly sống trơ trọi bên ngoài rất dễ rước lấy điều ong tiếng ve, khuyên ta quay về nhà mẹ đẻ, nhưng từng câu từng chữ đều lộ rõ mưu tính muốn dựa vào thân phận Huyện chủ của ta để trèo cao bám quý.
Ta chẳng buồn bóc ra xem, cứ thế nguyên phong trả về chỗ cũ.
Sau khi thụ phong, các phủ đệ quyền quý trong kinh thành cũng tới tấp đưa thiệp mời đến, trên thiệp đều cung kính đề dòng chữ “Cung thỉnh An Nghĩa Huyện chủ phó yến”.
Ta chọn lựa vài nhà có thân phận trọng yếu để tới dự.
Trong các buổi tiệc, ta phần lớn chỉ thong thả nhấp trà lắng nghe mọi người trò chuyện, thi thoảng mới thuận miệng tiếp lời đôi câu, không hề tranh đoạt sự chú ý, cũng chẳng tỏ vẻ cao ngạo lạnh lùng.
Qua vài bận yến tiệc, khắp kinh thành ai nấy đều biết An Nghĩa Huyện chủ là người trầm ổn hiểu lễ nghĩa, chứ không phải hạng khuê các tiểu thư tầm thường chưa từng thấy việc đời.

