Ta bưng đĩa hoa quả gọt sẵn bước vào phòng.
Bùi Cảnh Diệu ngẩng đầu lên hỏi:
“Nương ơi, người bảo xem lúc cha còn nhỏ có phải cũng hay bị phạt chép sách thế này không?”
Bùi Hoài Cẩn lạnh lùng đáp:
“Không hề.”
“Vậy sao cha chép còn chậm hơn cả con thế?”
Ta cúi đầu nhìn xuống bàn.
Bùi Hoài Cẩn rõ ràng đang lén lút chép bài hộ con trai.
Nét chữ của hắn cứng cáp, mạnh mẽ như rồng bay phượng múa; còn chữ của Bùi Cảnh Diệu thì xiêu xiêu vẹo vẹo như gà bới.
Hai trang giấy đặt cạnh nhau, kẻ mù cũng nhận ra ai là người viết.
Ta đặt đĩa hoa quả xuống bàn:
“Tướng quân.”
“Ừ.”
“Phạt con chép sách, chàng lại đi chép hộ nó sao?”
Bùi Hoài Cẩn im bặt không nói được câu nào.
Bùi Cảnh Diệu lập tức tố cáo ngay tắp lự:
“Cha bảo, cha chép xong rồi thì con không phải chép nữa!”
Ta ngồi xuống bên cạnh Bùi Hoài Cẩn:
“Vậy thì cùng nhau chép phạt tiếp đi.”
“Phu nhân…”
“Chép thêm mười trang nữa.”
Bùi Cảnh Diệu ngồi bên cạnh cười trên nỗi đau của người khác.
Bùi Hoài Cẩn liếc mắt nhìn con trai một cái:
“Con chép hai mươi trang.”
Tiếng cười của đứa trẻ lập tức tắt ngấm.
Ngoài cửa sổ, ánh trăng vằng vặc sáng trong.
Tờ giấy trên bàn bị gió đêm khẽ thổi lật một góc.
Trang giấy trên cùng là những chữ Bùi Cảnh Diệu mới học viết ngày hôm nay:
“Cha, Nương, Nhà.”
16.
Lại trôi qua thêm hai năm nữa, Thẩm Ngạn rời khỏi kinh thành.
Hầu phủ cắn răng bỏ tiền túi bù đắp vào lỗ hổng ba vạn lượng bạc năm xưa.
Vĩnh Ninh Hầu chê hắn làm mất sạch mặt mũi gia tộc, liền điều chuyển hắn tới một huyện thành xa xôi hẻo lánh nhậm chức một chức quan nhàn tản vô danh.
Nghe đồn trước ngày rời kinh, hắn từng đứng rất lâu trước cổng Tướng quân phủ.
Cuối cùng hắn chỉ nhờ người gác cổng chuyển vào một chiếc hộp đựng cây trâm ngọc bích năm xưa.
Ta không hề nhận lấy, sai người mang trả về nguyên vẹn.
Có những thứ một khi đã bỏ lỡ là vĩnh viễn lỡ làng, không phải cứ thốt ra một câu hối hận là có thể quay lại thuở ban đầu.
Thẩm Tri Vi chết trong nhà lao nữ vào mùa đông năm thứ sáu.
Nàng ta không chết vì bạo bệnh, mà là trong tiết trời giá rét bị sai đi giặt đồ, trượt chân ngã gãy một bên chân.
Cuộc sống trong ngục tối quá đỗi cơ cực, cay đắng, nàng ta không thể gắng gượng qua nổi mùa đông năm ấy.
Trước khi lâm chung, nàng ta nhờ ngục tốt chuyển một lời tới ta:
“Tỷ tỷ, kiếp sau muội không tranh giành nữa đâu.”
Ta nghe xong, chỉ thản nhiên đáp lại một câu:
“Kiếp sau, đừng làm muội muội của ta nữa.”
Chu thị sống rất thọ ở trang điền hẻo lánh.
Bà ta cả đời xem trọng thể diện và tôn nghiêm nhất, thế nhưng cuối đời lại bị đám trang đầu cắt xén khẩu phần ăn, phải mặc quần áo vải thô rách rưới, ngày ngày cúi mặt giặt giũ thuê cho người ta kiếm miếng ăn qua ngày.
Phụ thân từng tới thăm bà ta một lần.
Sau khi trở về, bệnh tình của ông lại càng thêm trầm trọng.
Trước khi qua đời, ông muốn để lại toàn bộ gia sản còn sót lại của Thẩm gia cho ta, nhưng ta từ chối không nhận.
Ta chỉ lấy lại đúng phần tài sản vốn dĩ thuộc về mẫu thân ta năm xưa, phần còn lại ta bảo ông quyên góp hết cho Dưỡng Tế Viện để nuôi nấng những đứa trẻ mồ côi cơ nhỡ.
Năm Bùi Cảnh Diệu tròn mười tuổi, lần đầu tiên nó được theo chân Bùi Hoài Cẩn tới quân doanh rèn luyện.
Trước lúc lên đường, nó ôm chặt lấy cánh tay ta không chịu buông:
“Nương ơi, con sẽ về sớm thôi.”
“Được rồi.”
“Con sẽ nhặt những viên đá thật đẹp nơi biên ải mang về cho nương.”
“Được.”
“Con còn hái cả những bông hoa dại đẹp nhất mang về tặng nương nữa.”
“Được mà.”
“Nương đừng quên con đấy nhé.”
Ta đưa tay véo nhẹ chiếc má phúng phính của nó:
“Con một ngày ăn ba bát cơm đầy, nửa đêm đạp chăn tới tám lần, lúc tập viết thì mực dính đầy cả mặt mũi. Nương làm sao mà quên con cho được?”
Nó toét miệng cười toe toét.
Bùi Hoài Cẩn đứng bên cạnh tuấn mã, mỉm cười nhìn hai mẹ con ta.
Ta bước tới chỉnh lại áo choàng cho Bùi Cảnh Diệu:
“Đi đi con. Nhớ phải nghe lời cha đấy.”
“Cha cũng phải nghe lời con chứ bộ!”
Bùi Hoài Cẩn khẽ nhướng mày.
Bùi Cảnh Diệu ngước cằm lên cãi lý:
“Nương đã dạy rồi, người trong một nhà phải nói lý lẽ!”
Bùi Hoài Cẩn quay sang nhìn ta.
Ta làm như không có chuyện gì xảy ra, đưa mắt nhìn về phía khác.
Tiếng vó ngựa xa dần rồi khuất bóng.
Ta đứng trước cổng Tướng quân phủ, lặng nhìn bóng lưng của hai cha con hòa vào ánh tà dương nơi cuối con phố dài thênh thang.
Trong lòng bàn tay ta vẫn nắm chặt một quả tú cầu nhỏ nhắn.
Đó là quả tú cầu hôm qua Bùi Cảnh Diệu lén lút ngồi khâu tặng ta.
Đường kim mũi chỉ xiêu xiêu vẹo vẹo, trông rất giống chiếc bùa bình an năm xưa mẹ đẻ nó để lại.
Phía trên quả tú cầu chỉ thêu vẻn vẹn ba chữ:
“Thẩm Vân Đường.”
Ta cúi đầu mỉm cười.
Năm ấy trên đường Chu Tước, ai ai cũng cười nhạo ta không gả đi được, cười nhạo ta chịu cảnh bẽ bàng.
Họ đâu hay biết rằng:
Thứ ta đón nhận năm ấy chưa từng là một lời hứa bông đùa của một đứa trẻ thơ.
Mà đó chính là con đường do chính tay ta đã lựa chọn sau khi được tái sinh lại một đời.
(Hết)

