Chị Trần nhìn Lục Chiến Sinh ở phía xa, thở dài.

“Nó… cũng đã nhận báo ứng rồi.”

“Chiến Sinh từ nhỏ đã hiếu thắng, không biết cách yêu người khác. Nó coi em là một phần của nó, nghĩ rằng thay em quyết định mọi thứ là điều hiển nhiên, nhưng lại quên hỏi xem em có muốn hay không.”

“Nhưng trong lòng nó có em. Sau khi em rời đi, nó suýt nữa mất mạng. Cha nó tức giận đến mức đánh gãy ba chiếc xương sườn của nó, mà nó không kêu một tiếng.”

“Nó đem toàn bộ tiền trợ cấp của mình quyên góp ẩn danh cho gia đình những chiến sĩ hy sinh ở đại đội bảy, quyên suốt mấy năm.”

“Hồng Anh, chị biết em hận nó, nhưng con người không thể sống mãi trong hận thù.”

Tôi nhìn chị Trần, lắc đầu.

“Chị Trần, em không hận anh ta nữa.”

Hận thù… cũng cần sức lực.

Mà tôi không còn sức nữa.

“Em chỉ là… không muốn nhìn thấy anh ta nữa.”

Chị Trần còn muốn nói gì đó.

Tôi cắt ngang:

“Chị Trần, em mệt rồi, muốn về nghỉ.”

Tôi chào chị một cái, rồi quay người rời đi.

Tôi không quay đầu lại.

Nhưng tôi biết, Lục Chiến Sinh vẫn đứng đó, giống như một tảng đá nhìn vợ, nhìn tôi.

Đáng tiếc… vợ của anh đã chết từ lâu rồi.

Cuộc sống trở lại bình lặng.

Lục Chiến Sinh vẫn làm việc ở kho.

Anh không còn viết thư cho tôi nữa, cũng không công khai đối tốt với tôi nữa.

Chỉ đứng từ xa nhìn tôi.

Tôi lên núi hái thuốc, anh sẽ theo sau cách tôi mấy trăm mét.

Tôi đi khám bệnh, anh sẽ lái chiếc xe tải của kho lặng lẽ đi theo phía sau, cho đến khi tôi trở về an toàn.

Anh sống như một vị thần hộ mệnh vô hình.

Còn tôi… coi như không thấy.

Tôi được thăng chức làm viện trưởng, cấp trên phân cho tôi một căn nhà mới.

Ngày chuyển nhà, rất nhiều đồng đội đến giúp.

Lục Chiến Sinh cũng đến.

Anh một mình lặng lẽ khiêng những món đồ nặng nhất.

Mồ hôi thấm ướt quần áo, anh không nói một lời.

Chuyển nhà xong, mọi người ăn cơm trong sân nhà mới của tôi.

Rất náo nhiệt.

Lục Chiến Sinh không lên bàn.

Anh ngồi trên bậc thềm trước cổng, vừa uống nước lọc vừa gặm một cái bánh bao nguội.

Có người nhìn không đành lòng, đến kéo anh.

“Lại đây ăn cùng đi!”

Anh lắc đầu.

“Không cần đâu, tôi ăn rồi.”

Ai cũng biết anh đang nói dối.

Nhưng không ai khuyên nữa.

Đó là lựa chọn của anh.

Buổi tối, tôi tiễn khách xong, dọn dẹp sân.

Thấy trên bậc thềm trước cửa đặt một chiếc phích nước mới tinh.

Là Lục Chiến Sinh để lại.

Tôi cầm lên, trực tiếp ném vào thùng rác.

Ngày hôm sau, anh lại mang đến một cây chổi mới.

Tôi lại ném đi.

Anh tặng, tôi ném.

Ngày nào cũng như vậy.

Cho đến một ngày, tôi nhận được một lá thư gửi từ hải đảo.

Thư là do bà y tá trưởng già của trạm y tế trên đảo viết.

Bà nói, mỗi năm Lục Chiến Sinh đều nhờ người gửi tiền về đó để tu sửa con đê ở bờ đông.

Bây giờ, con đê đó đã trở thành con đê kiên cố nhất toàn quân.

Trên con đê dựng một tấm bia.

Trên bia khắc tên tất cả những chiến sĩ hy sinh của đại đội bảy.

Người đầu tiên… là Thịnh Lỗi.

Cuối thư, bà y tá trưởng viết:

“Hồng Anh, tôi biết con khổ. Nhưng đứa bé Chiến Sinh đó… cũng sắp tự ép mình cạn kiệt rồi.”

Tôi ném lá thư vào lò sưởi.

Ngọn lửa bốc lên, thiêu tất cả thành tro.

Đêm hôm đó, trời đổ mưa lớn.

Tôi đang ngủ say thì bị một tràng gõ cửa dồn dập đánh thức.

Người lính cảnh vệ mặt đầy lo lắng:

“Viện trưởng Thịnh! Không ổn rồi! Núi phía sau bị sạt lở, Lục Chiến Sinh vì cứu vật tư nên bị chôn vùi bên trong!”

Tim tôi hụt mất một nhịp.

Nhưng tôi không động đậy.

Người lính cảnh vệ sốt ruột:

“Viện trưởng Thịnh! Mau đi cứu người đi!”

Tôi mặc áo vào, cầm hòm thuốc.

“Đi thôi.”

Khi đến hiện trường, đội cứu hộ đã đào được một lối thông.

Lục Chiến Sinh được khiêng ra.

Chân trái của anh bị đá đập gãy, xương trắng hếu lòi ra ngoài.

Anh đã hôn mê.

Tôi quỳ xuống bên cạnh anh, bắt đầu cấp cứu.

Cầm máu cho anh, cố định chân gãy, tiêm thuốc trợ tim.

Anh được đặt lên cáng.

Trong khoảnh khắc được khiêng đi, anh dường như tỉnh lại.

Anh nắm lấy tay tôi, trong mắt có một tia sáng yếu ớt.

“Hồng Anh… em đến rồi…”

Tôi hất tay anh ra.

“Im đi! Giữ sức đi.”

Chân của Lục Chiến Sinh không giữ được nữa, phải cắt bỏ.

Anh trở thành người tàn tật.

Ca phẫu thuật do chính tay tôi thực hiện.

Tôi đã cưa chân anh xuống.

Suốt quá trình, tôi không hề do dự.

Sau khi tỉnh lại, nhìn ống quần trống rỗng của mình, anh không khóc, cũng không làm loạn.

Chỉ nhìn tôi, mỉm cười.

“Như vậy… cũng tốt.”

Anh nói:

“Cái chân này của anh… sớm muộn cũng nên trả lại cho em trai em.”

Tôi không để ý đến anh.

Sau khi làm xong thủ tục xuất viện, anh chống nạng đến tìm tôi.

“Hồng Anh, anh phải đi rồi.”

Anh đưa cho tôi một bản báo cáo điều chuyển.

Anh muốn xuất ngũ về quê.

“Anh biết, anh ở lại đây chỉ khiến em chướng mắt.”

“Sau này… anh sẽ không đến làm phiền em nữa.”

Anh móc từ túi ra một chiếc hộp gỗ nhỏ.

Mở ra, bên trong là một chiếc nhẫn bạc.

Rất thô.

“Cái này… là anh tự làm. Anh nghĩ… lúc kết hôn, anh thậm chí còn không mua cho em một chiếc nhẫn ra hồn.”

“Anh biết em sẽ không nhận, anh chỉ là… muốn em nhìn nó một lần.”

Anh đặt chiếc hộp lên bàn trước mặt tôi.

Sau đó, anh chống nạng, khập khiễng đi về phía cửa.

Bóng lưng anh còng xuống, cô độc.

Ở cửa, anh dừng lại, không quay đầu.

“Hồng Anh, bảo trọng.”

Nói xong, anh bước ra ngoài.

Tôi nhìn chiếc hộp gỗ trên bàn.

Rất lâu, rất lâu.

Tôi đứng dậy, cầm nó đi đến cửa sổ.

Mở cửa sổ, dùng sức ném nó ra ngoài.

Chiếc hộp vẽ một đường cong trong không trung, rồi biến mất trong bụi cỏ phía xa.

Tôi đóng cửa sổ lại.

Tất cả… đã kết thúc.

Hai năm sau, tôi nhận được thư của chị Trần.

Chị nói, sau khi Lục Chiến Sinh về quê cũng không tái hôn.

Anh dùng toàn bộ tiền trợ cấp xuất ngũ để xây một trường tiểu học hy vọng ở quê nhà.

Còn bản thân anh làm bảo vệ không lương trong trường.

Anh dành tất cả tình yêu của mình cho những đứa trẻ vùng núi.

Bọn trẻ đều rất thích anh, gọi anh là “ông nội một chân”.

Cuối thư, chị Trần gửi kèm một bức ảnh.

Trong ảnh, Lục Chiến Sinh ngồi dưới một gốc cây lớn, xung quanh là một đám trẻ con vây quanh.

Anh cười hiền hậu.

Nhưng tóc anh đã bạc trắng.

Tôi cất bức ảnh và lá thư lại với nhau.

Không hồi âm.

Vài năm sau nữa, vì những đóng góp nổi bật trong sự nghiệp y tế biên giới, tôi được điều về Bắc Kinh, vào làm việc tại Bệnh viện Tổng hợp của toàn quân.

Tôi có phòng nghiên cứu của riêng mình, dẫn dắt một nhóm sinh viên ưu tú.

Cuộc đời tôi bước lên một con đường sáng sủa.

Tôi không bao giờ nghe tin tức gì về Lục Chiến Sinh nữa.

Anh giống như một hạt bụi, biến mất khỏi thế giới của tôi.

Một năm nọ vào tiết Thanh Minh, tôi trở lại Tây Nam.

Đến nghĩa trang liệt sĩ.

Trước bia mộ của Thịnh Lỗi, tôi đặt một bó cúc trắng.

Bia mộ được lau rất sạch.

Bên cạnh đặt một chiếc bình nước cũ đã phai màu.

Tôi đứng rất lâu.

Khi rời đi, tôi thấy người gác cổng nghĩa trang là một ông lão cụt một chân chống nạng.

Ông đang quét sân.

Từ rất xa, tôi không nhìn rõ mặt ông.

Tôi cũng không lại gần.

Chỉ nhìn ông một lần từ xa.

Rồi quay người, rời đi.

Ánh nắng rất đẹp.

Tôi đi trên đường, ngẩng đầu nhìn trời.

Trời rất xanh.

Giống như lần đầu tôi gặp Lục Chiến Sinh, bầu trời trong mắt anh.

Nhưng tôi biết.

Bầu trời đó… từ lâu đã sụp đổ.

Không bao giờ quay lại được nữa.

HẾT