18.

Mùa đông năm thứ năm của mạt thế, trời đặc biệt lạnh.

Không có lò sưởi, cũng chẳng có đủ quần áo ấm, mọi người đành rúc vào nhau để
sưởi. Hơn ba mươi người chen chúc trong đại sảnh tầng một, quây quanh một cái lò
lửa tự chế từ thùng phuy chở dầu. Lửa không lớn, nhưng chí ít cũng có hơi ấm.

Tất cả đều quấn chăn kín mít. Trần Nguyệt Minh ngồi phía sau tôi, quấn cả tôi và
chăn vào chung một cục, chỉ để ló cái đầu tôi ra ngay trước ngực anh.

Tên Mập ngồi đối diện, nhìn hai chúng tôi, thở dài một tiếng đầy ẩn ý.

Tôi hơi mất tự nhiên cựa quậy, Trần Nguyệt Minh liền lạnh lùng lườm Tên Mập một
cái, rồi lại lườm tôi: “Còn cựa quậy nữa tôi vứt cô ra ngoài bây giờ.”

Tên Mập lập tức quay mặt đi nhìn lò lửa.

Người thứ ba mươi sáu tôi nhặt về, đứa trẻ họ Lâm, tên là Lâm Tiểu Hòa. Thằng bé
đang tựa vào chân tôi, ngủ say sưa. Nhịp thở của nó rất nhẹ, lồng ngực phập
phồng đều đặn.

Tôi cúi đầu nhìn nó. Năm nay thằng bé bảy tuổi, lúc mạt thế bùng nổ năm năm
trước nó mới hai tuổi. Nó không có ký ức gì về thế giới bình thường.

Nó không biết ở siêu thị chỉ cần dùng tiền mua đồ là được, không cần phải liều
mạng. Nó không biết buổi tối có thể ra ngoài đi dạo mà không cần nơm nớp lo sợ
bị zombie cắn. Nó không biết trường học trông như thế nào.

Đối với nó, thế giới chính là như thế này. Đổ nát, zombie, giá rét, đói khát, và
một đám người xa lạ ôm lấy nhau sưởi ấm.

Tôi viết lên giấy: “Tầm tuổi này Lâm Tiểu Hòa đáng lẽ phải học tiểu học rồi.”

Trần Nguyệt Minh liếc qua, nói: “Học hành gì? Cô dạy chắc?”

Tôi viết: “Tôi không biết dạy. Chỉ là cảm thấy, trẻ em thì nên được đi học.”

Trần Nguyệt Minh im lặng, một lát sau, anh lên tiếng: “Ngày mai dọn dẹp một góc
ở tầng một đi. Cô dạy chữ, tôi dạy toán.”

Tôi nhìn anh, anh nhìn lò sưởi. “Cái nét chữ gãy nát của cô, cũng chỉ xứng đáng
dạy trẻ con thôi.”

Mắt tôi cong lên. Trần Nguyệt Minh liếc nhìn một cái, liền quay mặt đi chỗ khác.
Tôi thấy khóe miệng anh cũng khẽ cong lên.

Đêm đó, mọi người đều đã ngủ say. Lửa trong lò đã sắp tàn, chỉ còn vài đốm than
đỏ au lấp lóe dưới lớp tro tàn.

Trần Nguyệt Minh vẫn chưa ngủ. Anh ngồi bên lò, tay cầm một cành củi, gạt gạt
lớp tro, cố gắng khơi cho lửa cháy to lên một chút.

Trong bóng tối, tay anh thò sang, nắm lấy tay tôi. Mười ngón tay đan vào nhau.
Tay tôi lạnh ngắt. Anh nắm rất chặt.

Như thể đang nắm giữ một thứ sắp sửa tan biến.

Tôi không buông tay. Anh cũng không.

19.

Mùa xuân năm thứ sáu của mạt thế đến sớm hơn mọi năm một chút.

Tuyết tan, zombie trên đường cũng ít đi, thi thoảng có thể thấy trên mặt đất nhú
lên vài mầm xanh lưa thưa.

Tôi đứng trước cửa tòa lầu nhỏ, ngắm nhìn sắc xanh bé xíu ấy. Trần Nguyệt Minh
từ trong bước ra, đứng bên cạnh tôi. “Nhìn gì đấy?”

Tôi chỉ tay vào mầm xanh. Anh liếc qua, nói: “Đó là cỏ dại.”

Tôi viết: “Nhưng nó màu xanh.”

Anh không cãi lại.

Đằng xa, Tên Mập dẫn vài người từ bên ngoài trở về, ba lô căng phồng, có vẻ thu
hoạch không tồi. Lâm Tiểu Hòa chạy tung tăng trong đội hình, tay cầm một chiếc
túi nhỏ, phi rất nhanh.

“Chị Kiều! Chị Kiều! Chị xem em tìm thấy cái gì này!” Thằng bé chạy đến trước
mặt tôi, giơ chiếc túi lên sát mắt tôi.

Một gói hạt giống. Chữ trên bao bì đã phai màu, không nhìn rõ là hạt giống gì,
nhưng có hình quả cà chua. Thằng bé giơ gói hạt giống lên, mặt ửng đỏ vì gió
thổi, đôi mắt sáng lấp lánh. “Chúng ta có thể trồng cà chua không chị?”

Tôi nhận lấy gói hạt giống, nhìn hình ảnh mờ ảo trên đó. Viết lên giấy: “Có thể
thử xem.”

Lâm Tiểu Hòa vui sướng nhảy cẫng lên. Nó chạy ào vào trong lầu, hò hét đi tìm
một cái chậu đất.

Tôi đứng tại chỗ, tay nắm chặt gói hạt giống. Trần Nguyệt Minh đứng bên cạnh.

“Không phải cô nói muốn đi dạo mấy nơi khác sao?”

Tôi nhìn gói hạt giống trong tay, viết lên giấy: “Đợi cà chua lớn đã.”

Anh nhìn dòng chữ đó, không nói “cô lại nuốt lời”. Anh bảo: “Được. Đợi cà chua
lớn đã.”

Mùa xuân đến rồi. Gió thổi mơn man ấm áp.

Tôi đứng trước cửa tòa lầu nhỏ, trong tay nắm một gói hạt giống đã hết hạn. Trần
Nguyệt Minh đứng bên cạnh tôi. Xa xa, giữa những khe hở của đống đổ nát, cỏ dại
xanh mướt đang vươn lên mạnh mẽ.

Sẽ không ai nhớ nơi này từng là một thành phố. Nhưng tôi biết, nơi này từng có
con người. Rất nhiều người. Có những người đã chết. Có những người vẫn đang
sống.

Trần Nguyệt Minh nói tôi là một con ngốc. Có lẽ anh ấy nói đúng. Nhưng con ngốc
này, lúc tất cả mọi người đều bỏ cuộc, vẫn tiếp tục nhặt người về.

Chữ viết xiêu xiêu vẹo vẹo, nhưng trên tờ giấy nào cũng viết cùng một câu —
“Đừng chết.”

Tôi quay sang nhìn Trần Nguyệt Minh. Anh ấy vẫn luôn nhìn tôi, dường như đang
chờ đợi để ánh mắt chạm nhau.

Tôi viết lên giấy: “Trần Nguyệt Minh.” “Cảm ơn anh đã không chết.”

Anh nhìn dòng chữ đó, khựng lại một giây. Rồi anh cười. Anh rất ít khi cười.
Nhưng mỗi lần cười, đều trông vô cùng đẹp.

“Trần Ngọc Kiều,” anh nói, “Cô cũng chưa chết, đang sống rất tốt đấy thôi.”

Anh rút tờ giấy khỏi tay tôi, gấp cẩn thận lại, nhét vào túi áo. Túi áo phồng
cộm, bên trong toàn là giấy. Đều là do anh giấu đi. Là những tờ giấy tôi viết
cho anh, mà anh không nỡ vò nát. Tờ nào cũng được gấp lại vuông vức, ngay ngắn.

“Vào thôi.”

Tôi theo sau anh, bước vào trong tòa lầu nhỏ xập xệ đó. Cánh cửa đóng lại sau
lưng. Ngăn cách cả một thế giới bên ngoài.

Đống đổ nát, lũ zombie, gió cát rít gào ngoài kia, tất cả đều chẳng còn liên
quan gì đến chúng tôi nữa.

Tôi cúi đầu, nắn nót viết lên sổ tay một dòng chữ: “Ngày mai cũng là một ngày
đẹp trời.”

Năm thứ sáu mạt thế. Mùa xuân. Tôi và Trần Nguyệt Minh vẫn còn sống. Ba mươi sáu
con người trong tòa lầu nhỏ vẫn còn sống.

Hạt giống cà chua đã được gieo xuống lớp đất bùn, chờ đợi ngày nảy mầm, chờ đợi
ngày kết thành những quả đỏ mọng.

HẾT.