Số tiền gửi có kỳ hạn không rút ra được, mà cũng chẳng ai muốn rút.
Ông Vương đã rút khỏi vụ này. Cảnh sát Chu nói ông ấy được điều sang án khác, trước khi đi còn đến chào tôi.
“Đại Quân, sau này chú ý an toàn. Mấy người đó tuy đã bắt gần hết rồi, nhưng chưa chắc đã bắt sạch. Cậu ở một mình chỗ này, cẩn thận một chút.”
Tôi gật đầu.
Ông ấy đi rồi.
Căn nhà trọ lại chỉ còn lại một mình tôi.
Hai cây cải thảo đó vẫn để ở góc tường, là do Vương Tú Phân mang tới. Chúng đã héo rồi, lá cũng vàng cả.
Tôi không vứt đi.
Không hiểu sao, chỉ là không nỡ vứt.
Ngày rằm tháng Giêng, có người gõ cửa.
Tôi mở cửa, sững người.
Ngoài cửa là một cô gái trẻ, ngoài hai mươi tuổi, người gầy, mặt tái nhợt, mắt sưng đỏ.
Cô ấy mặc áo phao đen, trong tay cầm một cái phong bì.
“Xin hỏi, có phải anh Triệu Đại Quân không?”
“Là tôi.”
Cô ấy nhìn tôi, nước mắt bỗng chốc rơi xuống.
“Tôi là em gái của Tôn Kiến Bình.”
Tôi để cô ấy vào.
Cô ấy ngồi ở mép giường, khóc hồi lâu mới ngừng lại.
“Trước khi anh tôi chết, anh ấy từng gọi điện cho tôi.” Cô ấy nói, “Anh ấy bảo tôi đến tìm anh.”
Tôi không nói gì.
Cô ấy đưa phong bì trong tay cho tôi.
“Anh ấy bảo tôi đưa cái này cho anh.”
Tôi nhận lấy phong bì, mở ra.
Bên trong là một mảnh giấy và một tấm ảnh.
Chữ trên mảnh giấy, giống hệt tờ giấy nhét vào khe cửa đêm ba mươi Tết, xiêu xiêu vẹo vẹo:
“Đừng động vào tiền. Đợi tôi.”
Trong ảnh là hai người.
Một người đàn ông trẻ tuổi, gầy, mắt nhỏ, mặc áo sơ mi kẻ caro — Tôn Kiến Bình.
Người còn lại là một ông già tóc hoa râm, mặc áo bông cũ, đứng trước một căn nhà tồi tàn.
Tôi nhìn ông già đó, ngẩn ra.
Là bố tôi.
Bố tôi đã chết mười năm rồi.
Bức ảnh này, là chụp từ mười năm trước.
Tôi chưa từng nhìn thấy.
“Đây là…”
“Anh tôi nói, tấm ảnh này là do bố anh đưa cho anh ấy.”
Tay tôi bắt đầu run lên.
“Anh ấy… anh ấy quen bố tôi thế nào?”
Em gái của Tôn Kiến Bình nhìn tôi, nước mắt lại rơi xuống.
“Bố anh đã cứu anh ấy.”
Cô ấy nói, lúc nhỏ Tôn Kiến Bình rơi xuống sông, là bố tôi vớt anh ấy lên.
Lúc đó bố tôi vẫn còn đang làm ruộng ở quê, con sông đó ngay đầu làng.
Tôn Kiến Bình là người làng bên, nhà nghèo, cha mẹ cũng không quản. Bố tôi thấy anh ấy đáng thương, thường xuyên mang đồ ăn cho anh ấy.
Sau này bố tôi qua đời, Tôn Kiến Bình đi làm thuê ở nơi khác, cũng không quay về nữa.
“Anh ấy bảo tôi nói với anh,” em gái của Tôn Kiến Bình nói, “Số tiền đó, ban đầu anh ấy định dùng để giăng bẫy, dụ đầu sỏ của tập đoàn lừa đảo ra. Nhưng sau đó anh ấy phát hiện mình không sống nổi nữa, nên muốn để lại số tiền đó cho anh.”
“Để lại cho tôi?”
“Anh ấy nói, bố anh đã cứu anh ấy, anh ấy nợ nhà anh một mạng. Số tiền này, coi như trả nợ.”
Tôi nhìn bức ảnh đó, hốc mắt cay xè.
Bố tôi là một người thật thà, cả đời chưa làm được chuyện gì lớn lao.
Ông cứu một người, bản thân đại khái cũng đã quên rồi.
Nhưng người đó lại nhớ suốt cả đời.
“Nhưng số tiền này là tiền bẩn,” tôi nói, “Tòa án đã phong tỏa rồi, phải hoàn trả cho nạn nhân.”
Em gái của Tôn Kiến Bình gật đầu.
“Tôi biết. Anh trai tôi cũng biết. Nhưng anh ấy bảo tôi nói với anh, bất kể số tiền này cuối cùng vào tay ai, cái mạng mà anh ấy nợ nhà anh, anh ấy trả rồi.”
Cô ấy đứng dậy, đi ra cửa.
“Chú Triệu, tôi đi đây.”
Cô ấy gọi tôi là chú Triệu.
Bỗng nhiên tôi nhớ ra, nếu Tôn Kiến Bình còn sống, năm nay chắc cũng phải ngoài ba mươi rồi.
Cậu ấy nhỏ hơn tôi mười mấy tuổi.
Cậu ấy gọi bố tôi là chú, gọi tôi là anh.
Nhưng Cậu ấy đã chết rồi.
Chết vào đêm ba mươi Tết.
Sau khi đến tìm tôi, rồi chết.
Tôi đứng ở cửa, nhìn em gái Tôn Kiến Bình đi xa dần.
Gió rất lớn, thổi tóc cô ấy bay loạn.
Cô ấy không ngoảnh đầu lại.
12
Đêm đó, tôi ngồi một mình trong nhà, ăn hết bát sủi cảo đó.

