Trong nhà vệ sinh chung, có tiếng xì xào: “Nghe đồn Lâm Triệu Thu có chồng rồi, nhà chồng cung phụng cho đi học, thế mà vẫn mặt dày xin trợ cấp, tính ăn bám nhà trường à?”
Người kia hùa theo: “Dân quê lúc nào chả thích tính toán so đo.”
Tôi bưng chậu quần áo đứng khựng ngoài cửa, tiếng nước vòi rỏ ròng rọc. Tôi không bước vào.
Trong phòng, tiếng Trần Quế Phân đốp chát lại: “Nhà chồng người ta phải bán cả lợn giống mới có tiền cho con dâu đi học, vé xe lên đây còn phải chắp vá từng đồng. Trợ cấp của trường vốn dĩ sinh ra để hỗ trợ sinh viên khó khăn, không cấp cho cậu ấy thì cấp cho ai?”
Kẻ kia chép miệng cãi cùn: “Làm gì mà cậu sồn sồn lên thế?”
Trần Quế Phân đáp: “Tớ chướng mắt mấy đứa rảnh rỗi thích nhai đi nhai lại cái nghèo của người khác.”
Tôi bưng chậu bước vào. Hai cô ả kia thấy tôi liền câm bặt. Tôi thản nhiên đặt chậu xuống, vặn vòi nước cho xối xả vào bồn. Nhìn bọt nước trắng xóa, tôi cất giọng: “Tớ làm hồ sơ xin trợ cấp đúng quy định nhà trường. Nếu các cậu cảm thấy không công bằng, thì cứ lên phòng công tác sinh viên mà phản ánh.”
Chẳng ai dám hó hé nửa lời. Tôi bưng chậu, quay lưng bước ra ngoài.
Về lại phòng, tôi nắn nót điền vào tờ đơn xin trợ cấp. Thu nhập gia đình, nhân khẩu nhà chồng, bán lợn lo tiền học, nguồn gốc lộ phí… tôi liệt kê rành rọt từng khoản.
Đến mục ghi chú “Tiền mẹ đẻ cho 1 triệu”, tôi ngập ngừng hồi lâu. Nhưng cuối cùng, tôi vẫn viết vào.
Không phải để kể khổ. Mà để không có gì phải che giấu.
Buổi tối nộp đơn, cô Hà đọc xong ngước lên hỏi: “Em ghi chi tiết thế này luôn à?”
Tôi gật đầu: “Em không muốn người khác nghĩ em lừa gạt tiền trợ cấp của trường.”
Cô Hà đặt tờ đơn xuống, giọng điệu chùng xuống: “Lâm Triệu Thu, đôi khi sự nghèo khó không phải là cái tội, và việc tìm kiếm sự giúp đỡ cũng chẳng có gì sai. Em không cần phải vạch trần từng vết sẹo của mình ra cho người khác soi mói.”
Tôi sững người. Cô nhẹ nhàng nói tiếp: “Nhà trường cấp trợ cấp là để sinh viên yên tâm học hành, chứ không phải để sinh viên thi nhau chứng minh xem mình khổ sở, bi đát đến mức nào.”
Sống mũi tôi cay xè. Cô Hà cầm bút, ký cái rẹt chữ “Đồng ý” vào mục phê duyệt. “Về nghỉ đi. Hãy dồn hết tâm trí vào việc học.”
Bước ra khỏi văn phòng, gió đêm lùa qua cửa sổ hành lang lộng gió. Giây phút ấy, tôi chợt ngộ ra. Bước chân đến thành phố này, không chỉ đơn thuần là việc tranh giành một chỗ ngồi trong lớp học. Mà còn là hành trình học cách không bao giờ phải cúi đầu xấu hổ vì gốc gác của chính mình.
Vài ngày sau, thư phản hồi từ xóm Hạnh Hoa cũng tới. Phong bì nắn nót những nét chữ xiên vẹo, là cô giáo Diệp viết thay.
Mẹ bảo, thư con viết mẹ nghe đọc ba lần là thuộc lòng rồi. Mẹ dặn con phải ăn no, đừng sợ tốn tiền. Đầu gối thằng Đại Trụ khỏi rồi, ngày nào cũng ra đồng. Con Nhị Nha mượn sách Toán của con, đi ngủ cũng gối đầu giường. Trong làng bây giờ ai cũng gật gù bảo, con gái thì nên học cho nhiều vào.
Cuối thư còn chèn thêm một câu:
Mẹ dặn, đứa nào hỏi con có chồng chưa, con cứ đàng hoàng ưỡn ngực nói: Có rồi. Đứa nào hỏi sao nhà chồng cho đi học, con cứ đáp: Mẹ chồng tao rộng lượng, chồng tao không phải phường bần tiện.
Cầm lá thư trên tay, tôi vừa khóc vừa cười thành tiếng. Đám bạn cùng phòng xúm lại xem. Trần Quế Phân vỗ bàn cười ha hả: “Mẹ chồng cậu bá đạo thật đấy.” Bạch Tuệ cũng tủm tỉm: “Chồng không phải phường bần tiện, câu này viết văn được đấy.”
Tôi cẩn thận xếp lá thư cất kẹp vào trang sách.
Thế nhưng, ngay đêm hôm ấy, Lương Mai bỗng gõ cửa phòng tôi. Gương mặt cô ta tái mét, hoàn toàn đánh mất vẻ kiêu kỳ điềm tĩnh thường ngày.
“Lâm Triệu Thu, cậu đi cùng tớ đến Phòng công tác sinh viên một chuyến được không?”
Tôi bật dậy: “Có chuyện gì thế?”
Cô ta cắn chặt môi, hồi lâu mới rặn ra được một câu: “Bố mẹ tớ ở quê đã nhận lời đính hôn cho tớ. Gia đình nhà trai ngày mai sẽ lên trường bắt tớ về.”
21
Lương Mai thốt ra câu đó, những ngón tay bấu chặt lấy khung cửa. Thường ngày cô ta luôn chải chuốt gọn gàng, nhưng đêm nay mấy lọn tóc bù xù rũ xuống hai bên má.
Trần Quế Phân đang nằm cũng phải bật dậy: “Cậu là dân thành phố cơ mà? Sao lại ép đính hôn?”
Lương Mai xám xịt mặt mày: “Dân thành phố thì cũng có bố mẹ chứ.”
Bạch Tuệ buông cuốn sách xuống: “Bố mẹ cậu bắt cậu bỏ học à?”
Lương Mai gật đầu: “Gia đình nhà trai bảo, con gái học đại học dễ sinh thói hoang tưởng, tâm trí bay bổng. Họ bắt tớ phải về quê làm cỗ cưới trước, kết hôn xong rồi mới tính tiếp chuyện học hành.” Cô ta bật cười, nụ cười đắng chát: “Cái gọi là ‘tính tiếp chuyện học hành’, ai mà chẳng biết nó có nghĩa là gì.”
Tôi lặng lẽ nhìn cô ta, cái vách ngăn vô hình giữa hai chúng tôi bỗng chốc vỡ vụn.
Thì ra, cái trò nhân danh tình thương để định đoạt cuộc đời người khác, không chỉ tồn tại ở những xó xỉnh vùng sâu vùng xa. Nó len lỏi cả vào những khu chung cư hào nhoáng trên thành phố. Chỉ khác nhau ở cách diễn đạt, ở ấm trà đặt trên bàn thương lượng, nhưng bàn tay vô hình ép xuống vai người phụ nữ thì tàn nhẫn hệt như nhau.
Tôi hỏi thẳng: “Thế cậu có muốn về không?”

