Tống Tri Viễn cất cuốn sổ ký tên rồi mang qua đưa cho anh.

“Trang cuối cùng có người để lại một đoạn nhắn, anh xem đi.”

Giang Dữ lật đến trang cuối.

Nét chữ anh không nhận ra.

Trên đó viết:

“Tôi là giáo viên hồi đại học của Lâm Vãn. Tôi không biết sau này em ấy đã phải trải qua những chuyện thế này. Năm ba đại học, em ấy chọn môn tự chọn của tôi, cuối kỳ nộp một báo cáo đề tài thiết kế trang sức, tôi đã cho điểm tuyệt đối duy nhất của cả lớp. Trong phần nhận xét tôi đã viết: ‘Trong nét vẽ của em có thiên phú. Hy vọng một ngày nào đó có thể nhìn thấy tên em trong ngành này.’ Tôi đã không đợi được. Nhưng hôm nay, tôi đã thấy rồi.”

Bên dưới ký một cái tên.

Giang Dữ gấp sổ lại.

Trời đã tối. Đèn trong phòng tranh từng ngọn từng ngọn tắt dần.

Anh đứng bên lề đường, ngẩng đầu nhìn bầu trời.

Trời hôm nay rất trong, có thể nhìn thấy vài vì sao.

Những vì sao rất sáng.

**Chương 30**

Năm năm sau.

Trên tầng hai phòng tranh Thạch Quang có thêm một phòng triển lãm thường trực.

Bảng tên trước cửa ghi: “Studio Vãn Tinh, Không gian Thiết kế Tưởng niệm Lâm Vãn.”

Phòng triển lãm này mở cửa quanh năm, không thu vé. Bên trong trưng bày toàn bộ bản thảo thiết kế nguyên bản của tôi, từ bức đầu tiên đến bức cuối cùng, sắp xếp theo trình tự thời gian. Chính giữa tủ trưng bày là thành phẩm của sợi dây chuyền “Vãn Tinh”, bên cạnh là một chiếc máy tính bảng phát đi phát lại đoạn video ghi chép lại quá trình sáng tác do Tống Tri Viễn tổng hợp.

Trong năm năm qua, Tống Tri Viễn đã phát triển cái tên “Vãn Tinh” thành một thương hiệu thiết kế độc lập.

Các xưởng trang sức hợp tác mỗi năm sẽ chọn hai đến ba mẫu từ kho bản vẽ của tôi để sản xuất phiên bản giới hạn. Thẻ treo của mỗi món đồ đều in dòng chữ: Thiết kế/Lâm Vãn.

Năm đầu tiên, doanh thu của thương hiệu là 1,2 triệu tệ.

Đến năm thứ năm, con số này đã lên tới 8 triệu tệ.

Tất cả lợi nhuận sau khi trừ đi chi phí vận hành, một nửa được chuyển vào tài khoản của mẹ tôi, nửa còn lại được Tống Tri Viễn dùng để lập một quỹ hỗ trợ những nhà thiết kế trẻ. Quỹ mang tên “Dự án Vãn Tinh”, mỗi năm tài trợ cho ba nhà thiết kế độc lập trẻ hoàn thành tác phẩm thương mại hóa đầu tiên.

Triệu Tiểu Đường là một trong những thành viên ban giám khảo của quỹ.

Cô ấy hiện đang là đối tác của một công ty tư vấn thiết kế, trong văn phòng của cô treo một bức ảnh.

Chính là bức ảnh cô chụp trong ký túc xá ba năm rưỡi trước. Tôi nằm bò ra bàn vẽ thiết kế, kẹp bút chì giữa những ngón tay.

Cô dán một dòng chữ dưới bức ảnh: “Hôm nào tớ mời cậu ăn lẩu nhé.”

Chẳng có “hôm nào” cả. Nhưng chỗ ngồi ăn lẩu thì luôn được giữ lại.

Studio của Giang Dữ đã chuyển đến nơi mới.

Vẫn giữ tên “Khung Hình Cuối Cùng”, nhưng quy mô lớn hơn trước. Anh tuyển thêm hai trợ lý, nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn.

Trên bàn làm việc của anh có thêm một món đồ.

Chính là khung ảnh đó. Bức ảnh chụp chung ngày chúng tôi tốt nghiệp. Sau này anh làm lại một khung gỗ mới, màu đậm hơn khung cũ một chút.

Tờ giấy nhắn dưới bức ảnh vẫn còn đó.

“Đây là ngày vui nhất của mình.”

Anh không quen ai nữa.

Không phải vì không thể quên được quá khứ.

Chỉ là anh thấy không có gì phải vội.

Có lần Tiểu Quý hỏi anh: “Anh Dữ, anh định ế cả đời à?”

Anh đáp: “Đâu có. Chỉ là chưa gặp được người phù hợp thôi.”

Tiểu Quý không dám hỏi thêm.

Mẹ tôi già đi nhiều.

Tóc bạc quá nửa, lưng cũng còng hơn xưa.

Bà dọn dẹp lại nhà cửa, căn phòng tôi từng ở được khôi phục lại như cũ. Trên bàn học đặt hộp bút tôi dùng hồi nhỏ, trên tường treo một bức tranh màu nước tôi vẽ hồi cấp hai.

Mỗi tháng bà đến phòng tranh một lần.

Không xem gì khác, chỉ ngồi trước tủ trưng bày sợi dây chuyền “Vãn Tinh”, ngồi đúng nửa tiếng.