Đúng dịp Thanh Minh, hôm nay ta phải đến hoàng lăng tế bái cô tổ mẫu và tổ phụ.

Hoàng lăng Đại Chiếu ở trên núi. Đợi ta leo lên, liền thấy Quốc sư áo trắng tóc bạc đứng nơi đó.

Thấy người đến là ta, ông hàn huyên gật đầu:

“Bệ hạ an.”

Lại mười năm trôi qua, dung mạo ông không hề thay đổi.

Ta nghĩ chẳng trách cô tổ mẫu ghét ông. Bây giờ nhìn thôi ta cũng thấy hơi tức.

Làm xong tất cả mọi việc, ta cùng ông xuống núi. Ông hỏi:

“Bệ hạ, có nguyện đến Thiên Tuyền Các uống chén trà không?”

Nào có lý không đi?

Ta trước nay chưa từng đến Thiên Tuyền Các. Tòa lầu này xây trên núi ngoại ô kinh thành, tiện quan sát tinh tượng.

Trên đường lên núi, ông hỏi:

“Công chúa hiện nay thế nào?”

Ta theo bản năng còn tưởng là nói ta, chốc lát sau mới phản ứng lại là nói nữ nhi.

“Rất tốt, thông minh lắm. Lớn thêm chút nữa cũng cho ông làm học trò.”

Đường núi được tu sửa bằng phẳng, uốn lượn lên cao.

Gần Thiên Tuyền Các trồng đủ loại cây. Trước đây ông từng nói, người có ý nghĩa đối với ông qua đời, ông sẽ trồng trên núi một cây tương xứng với phẩm hạnh của người ấy.

Đời người trăm năm, cây có thể tồn tại ngàn năm vạn năm.

Những cây kia đều trồng ngoài viện, chỉ có hai cây xem ra chưa quá lâu năm ở trong viện. Một cây hồng mai nở rộ trái mùa, một cây tùng bách bốn mùa xanh biếc.

Ta chỉ vào khoảng đất trống gần hai cây kia:

“Sau này ta chết rồi, trồng một cây đào ở đây.”

Quốc sư đã chuẩn bị trà trong viện, nghe vậy cười:

“Bệ hạ có thể sống trăm tuổi, nói chuyện này còn quá sớm.”

Ta kinh ngạc nói:

“Không phải trước nay không nói thọ số sao?”

“Đối với phàm nhân tự nhiên không nói. Người thường biết thọ số của mình bao nhiêu, liền cho rằng đã nhìn trộm thiên cơ, hành vi đều khác. Bệ hạ không phải mệnh cách tầm thường, bất kể biết điều gì cũng sẽ không thay đổi bản tâm và mưu tính của mình, cho nên biết cũng không sao.”

Ông đưa cho ta một chén trà, thanh vận u hương, tuyệt đối không phải vật phàm.

Ta nhìn thấy trong chén màu trời hôm nay và đôi mắt của mình ngày quyết định không còn sợ số mệnh nữa.

Ta đặt chén trà xuống, hỏi ông:

“Từ sau khi ta đăng cơ, ngài cũng không còn hiện thế, nhưng ta có một vấn đề vẫn luôn muốn hỏi ngài.”

Ông nhấp một ngụm trà, yên lặng không nói.

Nhưng ta làm học trò của ông bảy năm, biết đây thật ra là một loại ngầm cho phép.

“Với năng lực của ngài, nhất định biết cái gọi là giet vua sẽ là kết cục như vậy. Vậy vì sao khi ta sinh ra, ngay trước mặt văn võ bá quan và hoàng thân quốc thích, lại nói ra lời tiên tri kia?”

Quốc sư nhìn ta, trong mắt có chút vui mừng:

“Ta từng nói với con, vận mệnh là một hạt giống, người ta dù cầu nguyện thế nào cũng chỉ có thể kết ra trái đã định. Ta nói ra lời tiên tri ấy, chính là gieo xuống hạt giống kia. Chính vì con và tiên đế đều là cùng một loại người, mới có thể kết ra trái thiên hạ thịnh vượng an vui hôm nay. Đó là nhân quả có báo.”

“Một hạt giống muốn lớn thành cây che trời, phải tỉ mỉ chăm sóc, trừ sâu bón phân, cắt tỉa cành lá. Vì lời tiên tri của ta, thuở nhỏ con gặp lời đồn và ánh mắt lạnh lùng, ta dốc túi truyền dạy để bù đắp, cũng coi như viên mãn. Con thiên đức nguyệt đức đều hợp, lại thêm mệnh cách đặc biệt, là người nhất định phải đi con đường này. Trên lưu miện của đế vương, vốn thiếu một viên minh châu là con.”

Nghi vấn vây khốn nửa đời được giải, ta hít sâu một hơi.

Hương trà cực kỳ trong lành thấm vào phế phủ, khiến người ta tai mắt sáng rõ.

Ta nhấp một ngụm, kinh ngạc như gặp vật trời.

“Ta vì lời tiên tri mà chịu đựng không chỉ là lời đồn và ánh mắt lạnh lùng. Cũng đâu phải ngươi dạy mấy năm là có thể bù đắp. Huống hồ bảy năm ấy đối với ngươi, chẳng qua cũng chỉ như cái chớp mắt thôi nhỉ?”

Quốc sư bất đắc dĩ cười:

“Ta thật đúng là nợ nhà họ Cố các người.”

“Nữ nhi của ta hiện thiếu một vị thầy giỏi. Ngài ở trên núi này ngột ngạt quá lâu, cũng nên xuống đi lại rồi. Trà này còn không? Lấy thêm cho ta ít.”

Trên gương mặt quanh năm không có biểu cảm gì của ông thật sự hiện ra chút cạn lời.

Ta uống cạn chén trà, đứng dậy nói:

“Quốc sư, đây là mệnh lệnh của trẫm.”

35

Lúc hoàng hôn trở về cung, sau bữa tối, ta xem qua chính vụ Tạ Gia Tụng đã sơ bộ xử lý.

Hắn theo ta nhiều năm, hiểu tâm tư của ta, nên cũng không tốn công sức gì.

Xử lý xong, ta đến thăm nữ nhi.

Trong phòng nến sáng rực, nhìn bóng dáng thì đang đọc sách. Ta lặng lẽ đẩy cửa đi vào, lại thấy con bé đang lau nước mắt.

Con bé giật mình, vội vùi mặt vào sách.

Ta bước đến, nhẹ nhàng ôm bờ vai nhỏ bé của nó:

“Muộn như vậy rồi thì đừng đọc nữa, hại mắt.”

Con bé buồn bực ừ một tiếng, vẫn không ngẩng đầu.

Ta kéo nó ra khỏi sách, dịu giọng hỏi:

“Nói cho nương nghe, vì sao lại khóc?”

Con bé bĩu môi. Người nhỏ xíu không chứa nổi tâm sự lớn như vậy, còn cố gắng vừa khóc vừa nói rõ:

“Con ngốc quá. Mọi người đều nói nương rất thông minh, rất lợi hại, con không muốn làm nương mất mặt.”

Sau đó còn dính dính nhão nhão nói thêm gì đó, nhưng đại khái đều là cùng một ý.

Ta vỗ lưng giúp con bé thuận khí, lấy khăn lau sạch mặt.