Năm 1985, ngày hai mươi sáu tháng Chạp.
Tôi chết trong một căn lều tồi tàn bên bờ sông Tùng Hoa.
Trên người đắp ba chiếc bao tải. Một cái do bà chủ nhà cho, hai cái còn lại tôi nhặt được ở trạm thu mua phế liệu. Trên bao tải thủng mấy lỗ, gió Bắc theo đó thốc vào, lạnh buốt như dao cứa tận xương.
Bên tay tôi là nửa chiếc bánh bột ngô đã đông cứng.
Không ăn được. Không phải tôi không muốn ăn, mà là tay đã không còn nhấc nổi nữa.
Ba ngày trước, tôi đã biết mình sắp không qua khỏi. Vết thương cũ trong phổi tái phát. Ban đầu đờm ho ra có lẫn tơ máu, sau đó biến thành cục máu, rồi cuối cùng chỉ còn ho khan, chẳng ho ra được thứ gì nữa, chỉ còn cơn đau xé rách lồng ngực.
Trước khi chết, tôi nghĩ gì nhỉ?
Tôi nhớ lại năm mình mười sáu tuổi. Cha kéo tôi từ trên giường đất dậy, nói:
“Niệm Nhi, con đi Đông Bắc đi. Anh trai con sắp cưới vợ, trong nhà không đủ chỗ ở. Con là con gái, sớm muộn gì cũng phải ra khỏi nhà.”
Tôi nhớ mẹ đứng trước bếp, quay lưng về phía tôi, đang áp bánh lên thành nồi.
Bà làm sáu cái. Ba cái cho anh trai tôi, hai cái cho cha, một cái cho em trai.
“Trên đường tiết kiệm mà ăn.”
Bà nói.
Đó là câu cuối cùng bà nói với tôi.
Bà không quay đầu. Cũng không nhìn tôi.
Tôi đứng ở cửa chờ rất lâu. Chờ đến khi gió Bắc thổi nước mắt đóng thành vụn băng trên mặt, bà vẫn không hề quay đầu lại.
Năm ấy tôi mười sáu tuổi.
Bây giờ, lúc chết, tôi hai mươi sáu.
Vừa tròn mười năm.
Mười năm ấy, tôi từng khiêng gỗ ở lâm trường, nung gạch trong lò gạch, xúc phân ở nông trường, vác bao tải ngoài bến tàu. Công việc cuối cùng là đánh bột giấy trong nhà máy giấy. Trong xưởng hơi nước mù mịt, phổi của tôi cũng hỏng từ đó.
Không ai quan tâm. Trên đời này không có lấy một người quan tâm đến sống chết của Thẩm Niệm.
Chết thì chết thôi. Dù sao lúc còn sống cũng chẳng có ai nhớ đến tôi.
Khi mở mắt lần nữa, tôi cứ tưởng mình đã xuống âm phủ.
Nhưng âm phủ chắc chắn sẽ không có mùi than tổ ong, càng không có tiếng kịch cách mạng phát ra từ chiếc radio nhà hàng xóm.
Trên trần nhà có một vết nứt kéo dài từ chỗ bóng đèn đến tận góc tường, giống như một dòng sông khô cạn.
Tôi biết vết nứt này.
Đây là căn nhà tôi đã sống suốt mười lăm năm.
Nhà họ Thẩm, số 3 ngõ Đậu Phụ, phố Nam, huyện thành.
Tôi xoay người ngồi dậy, cúi đầu nhìn đôi tay mình.
Trắng trẻo, thon nhỏ, móng tay được cắt gọn gàng. Không có vết nứt nẻ vì lạnh. Không có những vết thương rách. Ngón giữa cũng chưa từng bị khúc gỗ nào đè gãy.
Tôi nắm thử bàn tay. Năm ngón tay linh hoạt như năm con cá nhỏ.
Tôi bước xuống giường đất, chân trần giẫm lên nền gạch. Nền nhà lạnh, nhưng không phải cái lạnh của Đông Bắc, lạnh đến mức tưởng như có thể đông tróc cả lớp da dưới lòng bàn chân.
Đây cũng là tháng Chạp. Nhưng đây là huyện thành ở Sơn Đông. Dù lạnh đến mấy cũng không thể lạnh bằng bên bờ sông Tùng Hoa.
Trên bàn có một quyển lịch.
Năm 1975, ngày hai mươi sáu tháng Chạp.
Mười năm trước.
Cánh cửa “kẽo kẹt” một tiếng rồi bị đẩy ra.
“Niệm Nhi, dậy ăn cơm.”
Mẹ đứng ở cửa. Bà đeo chiếc tạp dề vải xanh, hai tay còn dính bột mì, tóc dùng một chiếc kẹp đen ghim ra sau tai. Trên mặt vẫn là vẻ bận rộn và thiếu kiên nhẫn mà tôi đã quá quen thuộc.
Bà còn sống.
Tôi nhìn bà ba giây. Trong ba giây đó, trên mặt bà lần lượt hiện lên vẻ khó hiểu, mất kiên nhẫn, còn có một chút chột dạ khó nhận ra.
“Ngẩn ra đó làm gì? Dậy ăn cơm. Lát nữa anh con còn phải đi làm.”
Bà xoay người rời đi. Tiếng bước chân vang vọng ngoài hành lang.
Tôi ngồi bên mép giường, hai tay chống lên đầu gối.
Đời trước, chính hôm nay tôi bị đưa đi. Ăn sáng xong, cha sẽ gọi tôi vào gian nhà chính. Mẹ sẽ nhét ba chiếc bánh bột ngô vào túi vải của tôi. Sau đó cha dắt xe đạp, tôi đeo túi, hai cha con một trước một sau bước ra khỏi ngõ Đậu Phụ, đi tới bến xe đường dài.
Ông mua cho tôi một tấm vé đi Đông Bắc.
Sau đó quay về nhà.
Còn tôi đi Đông Bắc.
Suốt mười năm, chưa từng quay về.
Không phải tôi không muốn về. Mà là không về nổi.
Năm đầu tiên không kiếm được tiền. Năm thứ hai không dành dụm nổi tiền xe. Năm thứ ba bị bệnh. Năm thứ tư lâm trường không cho nghỉ.
Đến năm thứ năm, tôi viết một lá thư gửi về nhà.
Tôi viết:
“Cha mẹ, con muốn về nhà.”
Rồi xé đi.
Tôi lại viết:
“Con bị bệnh rồi, cha mẹ có thể gửi cho con ít tiền được không?”
Cũng xé.
Cuối cùng viết:
“Con sống ở Đông Bắc rất tốt, cha mẹ đừng lo.”
Tôi gửi lá thư đó đi.
Không có hồi âm.
Sau này tôi còn viết thêm vài lá thư. Vẫn không có hồi âm. Rồi dần dần tôi không viết nữa.
Sau đó thì chết.
Bây giờ ông trời lại đưa tôi quay về đúng ngày hôm ấy.

