Trên sàn gỗ vẫn còn hằn hai vệt lõm nông choẹt do bánh xe lăn đè xuống, một trái một phải, rõ mồn một.

Anh ngồi xổm xuống, dùng ngón tay vuốt ve hai vết hằn đó.

“Tiên sinh, có cần tôi lau sàn một chút không?” Dì Triệu đứng bên cạnh, giọng rất nhỏ.

“Không cần.”

Anh đứng dậy, không tìm Lâm Hi cãi vã, cũng không nổi giận.

Anh chỉ bước vào phòng ngủ, mở tủ quần áo, kiểm tra hộp tro cốt trên nóc tủ.

Vẫn còn đó.

Tấm vải nhung không bị xê dịch, bức ảnh và đôi giày ballet vẫn ở vị trí cũ.

Anh đóng cửa tủ, thở hắt ra một hơi dài.

Tôi đứng cạnh tủ quần áo, chợt hiểu ra một chuyện.

Giới hạn cuối cùng của Thẩm Yến Châu chính là chiếc hộp tro cốt này.

Xe lăn có thể vứt, quần áo có thể đóng thùng, thuốc thang có thể cất đi, ảnh chụp có thể lật úp, nhưng hộp tro cốt thì không được đụng tới.

Đó là tấm bùa chuộc tội cuối cùng của anh.

Chỉ cần hộp tro cốt vẫn còn, anh có thể tự nhủ với bản thân rằng, mình chưa hề quên tôi.

Chỉ cần hộp tro cốt vẫn còn, anh có thể nói một câu “ngủ ngon” vào đêm khuya thanh vắng, giả vờ như mình vẫn là một người chồng mẫu mực.

Nhưng vấn đề là, chuộc tội và tình yêu là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

Anh ôm khư khư hộp tro cốt của tôi, nhưng lại để một người phụ nữ khác dọn vào nhà tôi, mặc váy ngủ của tôi, ngồi trên ghế của tôi, dùng nhà bếp của tôi để nấu cơm.

Chuộc tội đến cuối cùng, thứ anh chuộc rốt cuộc là mạng sống của tôi, hay là sự an tâm của chính anh?

Tối hôm đó, Lâm Hi mang về một tủ giày mới, đặt ở lối vào sảnh.

Tầng trên cùng để giày của Thẩm Yến Châu, các tầng dưới toàn là của cô ta.

Giày cao gót, giày bệt, giày thể thao, dép lê, được xếp thành từng hàng ngay ngắn.

Lúc dì Triệu báo chuyện này với Thẩm Yến Châu, anh đang đọc tài liệu trong phòng làm việc.

“Tiên sinh, cô Lâm Hi đã thay tủ giày ở sảnh rồi.”

“Ừ.”

Dì Triệu đợi một lúc, thấy anh không có phản ứng gì khác, bèn lui ra ngoài.

Lúc đóng cửa, dì Triệu ngoái lại nhìn Thẩm Yến Châu trong phòng làm việc.

Khuôn mặt anh bị ánh sáng màn hình hắt vào lúc sáng lúc tối, không nhìn rõ biểu cảm.

Dì Triệu khép hờ cửa, đứng ngoài hành lang vài giây.

Sau đó dì làm một hành động.

Dì bước đến sảnh, ngồi xổm xuống, lấy từ góc sâu nhất ở tầng dưới cùng của tủ giày ra một đôi giày bệt bằng vải cotton mà tôi từng hay đi.

Đôi giày đó tôi thường đi lúc ngồi xe lăn, vì chân không có cảm giác nên cần loại giày rất mềm và ấm.

Dì Triệu lẳng lặng giấu đôi giày đó vào tủ quần áo trong phòng mình.

Cất cùng với túi thuốc kia.

Cất cùng với bộ quần áo của tôi đã bị đóng thùng.

Căn phòng của dì Triệu, trở thành bảo tàng Tô Nịnh cuối cùng trong ngôi nhà này.

Tôi đứng trước cửa phòng dì, nhìn những món đồ từng bị dọn ra khỏi nhà, rồi lại được dì nhặt về từng món một.

Thuốc men, giày bông, một chiếc khăn quàng cổ, một cuốn sách tôi từng lật xem.

Dì Triệu tên là Triệu Quyên, người An Huy, 52 tuổi, trước khi đến nhà họ Thẩm từng làm hộ lý ở một viện dưỡng lão.

Lúc dì đến, tôi đã ngồi xe lăn sáu năm. Những ngày tháng tồi tệ nhất, tôi từng hất bát canh lên người dì, lôi toàn bộ quần áo dì vừa gấp xuống ném vương vãi trên sàn.

Dì chưa từng tức giận, lần nào cũng lẳng lặng dọn dẹp sạch sẽ, rồi bưng lên một bát cháo mới.

Có lần tôi hỏi dì, sao dì không mắng tôi.

Dì nói: “Con gái tôi cũng trạc tuổi cô, nếu con bé phải chịu khổ thế này, chắc tính tình còn tệ hơn.”

Sau này tôi mới biết, con gái dì bị tai nạn giao thông hai năm trước, cấp cứu không qua khỏi.

Dì mang theo bí mật đó để đến chăm sóc tôi.

Dì chưa từng nói với tôi.

Chỉ đến khi tôi chết đi, trôi vất vưởng ở nhà họ Thẩm những ngày này, nghe thấy dì nửa đêm một mình thì thầm với bức ảnh con gái trên điện thoại, tôi mới biết.

“Tiểu An, mẹ lại không giữ được một đứa trẻ nữa rồi.”