Trở lại chỗ ngồi, màn hình máy tính bật sáng, hộp thư đến có 17 email chưa đọc.

Tôi mở từng email, phản hồi 3 cái, xóa 5 email rác, số còn lại đánh dấu chưa đọc để chiều giải quyết.

Đến email thứ 12, chuông điện thoại đột ngột reo vang, màn hình hiển thị dì hai gọi đến.

Tôi với tay bắt máy.

“Chiêu Đệ, hôm nay tan làm cháu về nhà một chuyến được không? Bố cháu có chuyện muốn nói với cháu.”

“Không thể nói qua điện thoại được sao ạ?”

Dì hai im lặng mất hai giây, đầu dây bên kia vắng lặng như tờ, không tiếng tivi cũng chẳng có tiếng bát đĩa lanh canh. Suy ra, dì đang gọi từ nhà mình chứ không phải từ phòng bao nhà hàng Cẩm Yến.

“Đêm qua bố cháu thức trắng đêm, mẹ cháu cũng vậy, hai người ngồi im trong phòng khách, đèn cũng chẳng thèm bật. Sáng nay bố cháu bảo với dì, có một chuyện nhất định phải nói trực tiếp với cháu, liên quan đến căn nhà kia.”

Chuyện sổ hồng xẹt qua tâm trí tôi, bàn tay cầm điện thoại bất giác siết chặt lại.

Dì hai ngập ngừng, dường như đang cân nhắc từ ngữ: “Ông ấy bảo sau khi cháu rời đi, ông ấy đã lục lọi hồ sơ suốt một đêm, và phát hiện ra một chuyện mà chính bản thân ông ấy cũng không ngờ tới.”

“Chuyện gì vậy dì?”

“Ông ấy bảo bắt buộc phải tự mình nói cho cháu biết.”

6 giờ chiều, tôi đứng trước cửa nhà bố mẹ, đèn cảm ứng hành lang vẫn hắt ra thứ ánh sáng vàng vọt quen thuộc.

Câu đối Tết trên cửa đã được thay mới. Lần trước viết “Gia hòa vạn sự hưng” (Gia đình hòa thuận vạn sự hưng vượng), lần này vẫn là năm chữ ấy, giấy đỏ chói hơn, bột vàng chưa bong tróc mảng nào.

Tôi nhìn chằm chằm dòng chữ đó vài giây rồi giơ tay gõ cửa.

Người mở cửa là bố, trông ông già đi chục tuổi so với tối thứ Bảy.

Bọng mắt sưng vù, tròng trắng hằn đầy tia máu, nếp nhăn khóe miệng sâu hoắm như vết dao khắc.

Ông mặc chiếc áo len cũ kỹ đã giặt đến bạc màu, gấu tay áo sứt chỉ, sợi len lòng thòng ra ngoài.

Thấy tôi, ánh mắt ông khẽ chớp động, sau đó nghiêng người nhường đường, khẽ nói: “Vào đi con.”

Phòng khách không bật đèn tuýp, chỉ có một ngọn đèn cây hắt ra thứ ánh sáng le lói. Vòng sáng màu vàng ấm áp nhẹ nhàng trải dài trên góc sô pha.

Mẹ quấn chăn ngồi trên sô pha, mái tóc xõa tung. Vài sợi tóc lốm đốm bạc dính bết vào má. Thấy tôi bước vào, môi bà mấp máy như muốn cất lời, nhưng cuối cùng lại chẳng phát ra tiếng nào.

Trên bàn trà đặt một phong bì giấy xi măng, bên cạnh là cuốn sổ đỏ sẫm màu.

Bố chỉ vào chiếc ghế sô pha đơn đối diện, ra hiệu cho tôi ngồi xuống.

Tôi làm theo, nhưng ông không ngồi, đứng cạnh bàn trà, hai tay buông thõng, đầu ngón tay khẽ co quắp.

Sự tĩnh lặng bao trùm suốt mười giây.

Ông đưa tay nhấc chiếc phong bì giấy xi măng trên bàn lên, rút ra một tờ giấy đưa cho tôi, nói:

“Đây là giấy thỏa thuận nhận con nuôi năm xưa. Mẹ con ký, bố ký, và có cả con dấu của trạm y tế. Trên đó có tên mẹ ruột con——Trần Tú Lan.”

Ông lật mặt sau tờ giấy, có một dòng chữ viết tay bằng bút mực. Mực đã phai thành màu xanh nhạt, nét chữ rất thanh tú, nắn nót từng nét một, dường như được viết chậm rãi và dùng nhiều sức lực.

*”Đứa bé tên Niệm Từ. Lý Niệm Từ.”*

Tôi cúi đầu nhìn dòng chữ ấy. Niệm Từ, mang ý nghĩa thương nhớ người mẹ hiền.

Cái tên mẹ ruột đặt cho tôi không phải là Chiêu Đệ, Chiêu Đệ là do mẹ nuôi sau này đổi lại, nhằm mục đích chiêu dụ em trai đến.

Hai mươi tám năm trời, tôi vẫn luôn dùng một cái tên giả mà ngay chính bản thân mình cũng không hề hay biết, sống lây lất trong vở kịch do họ sắp đặt. Tên thật của tôi, bị khóa chặt trong ngăn kéo bàn làm việc của bố suốt hai mươi tám năm đằng đẵng.

Giọng bố nghẹn ngào, ông quay mặt đi, nhìn chằm chằm vào khoảng tường trống trơn cạnh ngọn đèn cây, chậm rãi nói: “Mẹ ruột con không vứt bỏ con, bà ấy đã qua đời rồi. Phút lâm chung, bà ấy van xin chúng