Những ngày tháng cứ thế trôi qua bình lặng.
Cho đến tháng thứ tư.
Tôi nhận được một cuộc điện thoại.
Số có mã vùng quốc tế, hiển thị là số lạ.
“Tô Vãn Tình đúng không?”
Giọng một người phụ nữ, tiếng phổ thông rất chuẩn, nhưng trong giọng điệu có một sự kiêu ngạo không thể tả nổi.
“Tôi là Tiền Nhã Lâm. Người quen của Giang Tư Thành. Anh ấy ở trên tàu không tiện nghe điện thoại nên bảo tôi nói với cô một tiếng, tháng sau anh ấy có phép năm, sẽ về nước.”
Tôi hơi khựng lại.
“Cô là… đồng nghiệp của anh ấy?”
Đầu dây bên kia bật cười một tiếng, rất nhẹ.
“Coi là vậy đi. Tôi làm việc ở trụ sở chính của công ty.”
“Công ty nào?”
“Thì công ty tàu biển mà anh ấy đang làm đó. Vận tải biển Viễn Châu.”
Cô ta cười nhẹ một cái, như đang cười nhạo sự ngu dốt của tôi.
“Chị dâu à, đừng nói là chị đến việc chồng mình làm ở công ty nào cũng không biết nhé?”
Ngón tay tôi siết chặt điện thoại.
“Cảm ơn cô đã thông báo.”
Cúp máy, tôi lạnh lùng nhìn chằm chằm vào màn hình.
Tiền Nhã Lâm.
Cái tên này, tôi nhớ rồi.
Tối hôm đó, Giang Tư Thành phá lệ gửi lời mời gọi video.
Đây là lần đầu tiên anh gọi video kể từ khi chúng tôi kết hôn.
Tôi vuốt lại tóc rồi bắt máy.
Trong màn hình, Giang Tư Thành đang dựa vào một bức tường kim loại, mặc bộ đồng phục bảo hộ màu xanh sẫm, tóc dài hơn một chút so với lần gặp trước.
Trông anh đen đi không ít, nhưng tinh thần khá tốt.
Trong khung hình, lờ mờ nghe thấy tiếng sóng biển.
“Trung thu vui vẻ.” Anh nói.
Lúc này tôi mới nhớ ra, hôm nay là Tết Trung thu.
“Trung thu vui vẻ.” Tôi cầm điện thoại bước ra ban công, cho anh nhìn mặt trăng ngoài cửa sổ một cái, “Trên tàu đón lễ, có bánh trung thu ăn không?”
“Đầu bếp có làm. Không ngon lắm.”
“Anh báo địa chỉ đi, tôi gửi cho anh.”
“Gửi đến nơi thì hỏng mất. Lần sau đi.”
Anh cầm một cái cốc inox lên uống nước, một vệt nước chảy dọc xuống cằm anh.
“Mấy tháng nay, em sống sao rồi?”
“Rất tốt. Rất tự do, và cũng… rất giàu có.”
Tôi nói thật.
Khóe miệng anh hơi giật một cái.
Tôi nhìn kỹ — đó là một độ cong cực kỳ nhạt, gần như không tồn tại.
Nhưng quả thực là anh đang cười.
“Tô Vãn Tình.” Anh gọi cả họ lẫn tên tôi.
Tim tôi bất giác đập nhanh hơn một nhịp.
“Những ngày tháng sống xa nhau thế này, sẽ không phải là cả đời đâu.”
Tôi sững người.
“Ý anh là sao?”
“Giới hạn thời gian làm việc trên biển của thuyền viên viễn dương là có hạn. Thời kỳ vàng son chạy tuyến viễn dương cường độ cao cũng chỉ chừng mười năm.” Ánh mắt anh thay đổi, từ vẻ lạnh nhạt thường ngày chuyển sang một thứ gì đó sâu thẳm hơn. “Tôi có một kế hoạch 10 năm.”
“Mười năm?”
“Đúng. Chạy viễn dương thêm mười năm nữa, tích cóp đủ vốn liếng. Khoảng 43 tuổi, tôi sẽ chuyển lên bờ — làm điều phối cảng hoặc giáo quan trường hàng hải. Đến lúc đó, mỗi ngày làm việc từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều, ngày nào cũng về nhà.”
Anh nhìn chằm chằm vào ống kính, ngược sáng ngọn đèn vàng ấm áp trong khoang tàu, ánh mắt rất vững vàng.
“Nếu thứ em sợ là cả đời phải ôm phòng trống một mình, thì không cần đâu. 10 năm đầu chúng ta là đối tác, tích lũy tài sản. 10 năm sau, chúng ta làm vợ chồng thực sự. Kế hoạch này, em chấp nhận được không?”
Tôi lặng lẽ nghe xong.
Mười năm.
Mười năm sau tôi 39 tuổi.
“Lúc đó anh cũng 43 rồi.” Tôi nói.
“Đúng. Đến lúc đó, tự do tài chính, sức khỏe vẫn ổn, bố mẹ già rồi nhưng có dịch vụ y tế tốt nhất. Chúng ta có thừa thời gian để bù đắp cho sự vắng mặt của 10 năm này.”
Tiếng gió biển qua điện thoại truyền đến, mặn chát và xa xăm.
“Được.” Tôi nói, “Tôi chấp nhận.”
“Vậy thì tốt.” Anh gật đầu, “Tháng sau nghỉ phép năm, tôi về. Đến lúc đó chúng ta đi đăng ký kết hôn.”
“Đợi anh về.”
Tắt video, tôi đứng trên ban công.
Gió thu thổi tới, hơi se lạnh.

