“Ông ta… ông ta có một chỗ. Ở ngoại ô.”
Vương Kiến chỉ một địa điểm trên bản đồ.
Một trang trại hữu cơ cách phía tây thành phố bốn mươi km.
Tôn Đức Toàn mua sau khi nghỉ hưu.
Đội trưởng Mã dẫn theo tám người tới đó.
Tôi và Cố Thâm cũng đi theo. Đội trưởng Mã không cho chúng tôi vào hiện trường, chúng tôi đành ngồi chờ trong xe.
Nửa tiếng sau, Đội trưởng Mã bước ra từ cổng trang trại.
Sắc mặt chú ấy rất khó coi.
“Người ở dưới tầng hầm.” Chú ấy nói với tôi, “Cháu có muốn vào xem thử không.”
Tôi liếc nhìn Cố Thâm.
Cô ấy đã đi thẳng vào trong.
Tôi vội bám theo.
Trang trại mang dáng dấp của một ngôi nhà nông thôn bình thường. Qua khỏi cổng là một mảnh vườn trồng rau, phía sau vườn rau là tòa nhà hai tầng. Cạnh tòa nhà có một lối xuống hầm.
Bước xuống mười hai bậc thang.
Tầng hầm không rộng lắm, chừng ba mươi mét vuông, ánh đèn huỳnh quang sáng trưng.
Bốn bức tường dán đầy rẫy các thứ.
Là những bức ảnh.
Ảnh của mười một nạn nhân.
Được sắp xếp theo thứ tự từng năm.
Dưới mỗi tấm ảnh ghi rõ họ tên, điểm số, ngày giờ tử vong và phương thức tử vong.
Bức ảnh đầu tiên trên cùng chiếm trọn cả một mảng tường.
Được phóng to cỡ giấy A3.
Tôn Diệc Hàng.
Cậu bé trong ảnh mặc đồng phục, đứng trên sân thể dục, nở nụ cười tươi rói, như thể trên thế giới này sẽ chẳng có bất kỳ chuyện tồi tệ nào xảy ra.
Bên dưới bức ảnh dán ba trang thư viết tay.
Tôi ghé sát vào xem câu đầu tiên…
“Bố ơi, con xin lỗi. Con không gồng nổi nữa rồi.”
Bức thư tuyệt mệnh đó.
Bức thư tuyệt mệnh của Tôn Diệc Hàng.
Dán trên bức tường này, đặt chung với ảnh của mười nạn nhân khác.
Chính giữa căn phòng đặt một cái ghế. Trên ghế có một người đang ngồi.
Tôn Đức Toàn.
Ông ta không hề phản kháng.
Thậm chí không hề đứng dậy.
Ông ta cứ ngồi đó, hai tay buông thõng trên đầu gối, ngẩng đầu nhìn bức ảnh con trai trên bức tường đối diện.
Người của Đội trưởng Mã đã khống chế hiện trường, nhưng không ai động vào ông ta.
Tất cả mọi người đều đứng chôn chân tại chỗ.
Ngay cả Cố Thâm cũng khựng bước.
Tôn Đức Toàn chậm rãi quay đầu lại.
Ông ta nhìn thấy Cố Thâm.
“Cô là em gái của Cố Ngôn.”
Cố Thâm không lên tiếng.
“Đứa bé Cố Ngôn đó.” Giọng Tôn Đức Toàn lơ lửng, bàng bạc mơ hồ, “Thằng bé đó rất tốt. Không đáng phải chết.”
“Bọn họ đều không đáng phải chết.” Giọng Cố Thâm phẳng lặng không một gợn sóng.
“Con trai tôi cũng không đáng phải chết.” Hốc mắt Tôn Đức Toàn đột nhiên đỏ hoe, giọng khản đặc như chiếc bễ rò hơi, “Thằng bé thi được hạng nhất. Nó vui sướng biết bao. Nó khoe với tôi: Bố ơi con đứng đầu toàn thành phố rồi. Thế rồi đám phóng viên kéo đến. Đài truyền hình kéo đến. Sở Giáo dục kéo đến. Nhà trường đưa nó lên sân khấu, bắt nó phát biểu. Nó đâu có giỏi ăn nói. Về đến nhà nó mất ngủ trắng đêm hết đêm này qua đêm khác. Tôi hỏi nó bị sao vậy, nó bảo bố ơi con sợ. Con đậu vào đại học tốt, người ta ai cũng khen con giỏi. Vậy nhỡ lên đại học con không đứng nhất được nữa thì sao? Nhỡ con làm mọi người thất vọng thì sao?”
Giọng ông ta ngày càng lớn.
“Tôi nói sẽ không đâu. Tôi nói con đã giỏi lắm rồi. Tôi nói con không cần phải đứng thứ nhất.”
“Nhưng tất cả mọi người đều nhồi vào đầu nó rằng: Cháu là thủ khoa. Cháu phải luôn luôn là thủ khoa.”
“Bảy ngày.” Ông ta giơ bảy ngón tay lên, “Nó chỉ chịu đựng được đúng bảy ngày.”
Căn phòng im phăng phắc, không ai lên tiếng.
“Tôi đến tìm hiệu trưởng, tìm Sở Giáo dục, tìm giới truyền thông. Tôi nói con trai tôi chết rồi, các người có trách nhiệm gì không? Bọn họ nói – Nén bi thương. Vỏn vẹn ba chữ đó. Xin nén bi thương.”
Ông ta cười.
Nụ cười méo mó, khó coi vô cùng.

