Không cần phải lo ai chê đắt, ai chê cay, ai lại đòi gọi thêm món.

Ăn xong, tôi còn mua cho mình một miếng nam châm gắn tủ lạnh.

Đúng 35 tệ.

Lúc trả tiền tôi bỗng phì cười.

12 vạn tệ tôi sẵn sàng vung tay.

Nhưng mấy ngày qua, một món đồ vài chục tệ tôi lại chẳng hề bận tâm mua lấy cho chính bản thân mình.

Buổi chiều ra đến sân bay, Hiểu Văn gửi cho tôi một tấm ảnh.

Là hai đứa cháu ngoại đứng cạnh chiếc xe RV.

Quả Quả giơ cao một tờ giấy.

Trên tờ giấy nguệch ngoạc mấy chữ:

“Bà ngoại, về nhà đợi cháu nhé.”

Tôi phóng to bức ảnh lên ngắm hồi lâu.

Rồi nhắn lại hai chữ.

“Đợi cháu.”

Ngày tôi về đến nhà đã rất muộn.

Kéo vali vào cửa, trong nhà xộc lên thứ mùi ẩm mốc đóng kín cửa hơn 20 ngày.

Tôi mở tung tất cả cửa sổ ra. Rồi đun một ấm nước sôi.

Lúc cất đồ đạc, tấm bản đồ cũ rơi ra từ balo.

Tôi ngồi xổm xuống nhặt lên.

Gần khu vực hồ Sayram không có vòng tròn nào do chồng tôi vẽ cả.

Tôi cầm cây bút bi, tự tay vẽ một vòng tròn ngay tại đó.

Ngẫm nghĩ một chút, tôi còn ghi thêm ngày tháng bên cạnh.

Chuyến du lịch đó, tôi không đi trọn vẹn cả hành trình.

Nhưng tôi không còn cảm thấy nuối tiếc nữa.

Năm ngày sau, nhà Hiểu Văn trở về.

Hơn 7 giờ tối, chuông cửa reo.

Tôi mở cửa, hai đứa cháu ùa vào đầu tiên.

Quả Quả ôm chầm lấy chân tôi.

“Bà ngoại! Sườn xào!”

Tôi cười ngặt nghẽo: “Cháu chỉ nhớ mỗi sườn thôi hử.”

Nhạc Nhạc đeo balo bước vào, tay cầm một cái túi nhỏ.

“Cho bà này.”

Bên trong là một hòn đá nhỏ rất bình thường.

Thằng bé bảo nhặt được trên đường đi, thấy màu sắc đẹp nên mang về.

Tôi đặt hòn đá lên tủ tivi.

Vợ chồng ông Trần Kiến Quốc cũng đến.

Trần Hạo bước vào cuối cùng.

Tay nó xách cái nồi cơm điện mini của tôi.

Lúc đi tôi mang theo để nấu cháo cho Hiểu Văn, lúc về suýt nữa thì quên mang về.

Nó đặt nồi cơm điện lên bàn.

“Mẹ, đồ của mẹ này.”

“Cứ để đó đi.”

Nó không tự nhiên ngồi xuống như mọi lần.

Đứng lóng ngóng vài giây mới hỏi: “Con có thể nói chuyện với mẹ mấy câu được không ạ?”

Tôi gật đầu. Chúng tôi ra ban công.

Nó lấy điện thoại ra.

“Con đã tính toán lại toàn bộ sổ sách rồi.”

Tôi không đáp.

Nó nói tiếp: “Tiền ăn ở, vé tham quan của nhà dì con trong 3 ngày đầu là hơn 7600 tệ. Tiền mua khăn choàng các thứ con cũng gom vào luôn.”

“Tiền homestay sau đó, phần vượt khỏi dự toán ban đầu là 4800 tệ.”

“Còn vài khoản nhỏ lẻ nữa.”

Nó đọc ra một con số tổng cộng.

Hơn 1 vạn 3 ngàn tệ.

“Con đã chuyển trả lại vào quỹ chung rồi.”

Tôi hỏi: “Dì con sau này có đưa tiền lại cho con không?”

“Có đưa một phần ạ.”

“Phần còn lại thì sao?”

“Con tự bù.”

Tôi gật đầu: “Thế là được rồi.”

Nó vẫn đứng im đó không nhúc nhích.

“Mẹ, sau đợt này con ngộ ra một chuyện.”

Tôi nhìn nó.

“Lúc đó con cứ nghĩ, mẹ đã bỏ ra ngần ấy tiền, thêm 3 người chắc cũng chẳng tốn thêm bao nhiêu.”

Nó nói rất chậm.

“Hồi nhỏ dì đối xử với con rất tốt, con muốn mời dì đi chơi một chuyến, nhưng lại xót ruột không nỡ bỏ tiền túi mấy vạn bạc.”

“Vừa hay mẹ là người chi tiền, con lại nghĩ ké thêm vào thì cũng chả đáng là bao.”

Nó cúi gằm mặt.

“Nói trắng ra, con đã mượn sự hào phóng của mẹ để làm cái ân tình ban phát cho người khác.”

Tôi không hề tạo bậc thang cho nó bước xuống.

“Đúng thế.”

Mặt nó hơi đỏ lên.

“Bố con cũng mắng con té tát rồi.”

“Bố con mắng hay không, không quan trọng.”

“Con biết.”

Nó im lặng một lát.

“Sau này con sẽ không thế nữa.”

Tôi nói: “Sau này có chuyện tương tự, phải hỏi ý kiến trước.”

“Con hỏi, chưa chắc mẹ đã đồng ý.”

“Không đồng ý thì tức là không đồng ý.”

Nó gật đầu: “Vâng ạ.”

Chúng tôi không ôm nhau.

Tôi cũng không nói mấy câu đại loại như “người một nhà qua rồi thì bỏ qua đi”.

Có một số chuyện nói toạc ra rồi, vẫn có thể tiếp tục qua lại với nhau.