Không nhịn được mà bật cười.

Trở về chỗ ở mới của chúng tôi — một căn hộ một phòng một khách 58 mét vuông, hướng nam, ánh sáng tốt.

Tiền thuê mỗi tháng 3.200 tệ, đặt cọc một trả ba, là do Tô Dao giúp tôi tìm.

Ngày chuyển nhà, tôi chỉ mang theo ba thùng đồ.

Một thùng quần áo của tôi và Đa Đa.

Một thùng bản thảo và dụng cụ vẽ của tôi.

Một thùng sách tranh và đồ chơi của Đa Đa.

Mười năm hôn nhân, cô đọng lại thành ba cái thùng.

Nghĩ lại cũng thấy buồn cười.

Nhưng tôi không thấy đau khổ.

Đáng buồn là mười năm đó, chứ không phải ba cái thùng này.

Hứa Hành Chu sau đó quả thật mỗi tuần đều đến thăm Đa Đa.

Lần nào cũng là chiều thứ bảy, đến đúng giờ.

Anh ta sẽ đưa Đa Đa xuống dưới khu nhà đạp xe, hoặc đi công viên gần đó cho cá ăn.

Mỗi lần nhìn thấy anh ta, Đa Đa đều rất vui, lao tới gọi bố.

Anh ta ngồi xuống đỡ lấy con bé, bế lên xoay một vòng.

Dáng vẻ vụng về mà nghiêm túc đó, không còn giống anh ta của ngày xưa lắm.

Giống như một người cuối cùng cũng học được cách cho đi.

Chỉ là học quá muộn.

Khi đưa Đa Đa về, anh ta sẽ đứng ở cửa một lúc.

Có mấy lần anh ta muốn nói rồi lại thôi, môi động đậy mấy lần, cuối cùng vẫn chỉ nói một câu “Vậy anh đi đây”.

Tôi nói “Ừ, anh đi đường cẩn thận”.

Rồi đóng cửa.

Lịch sự, xa cách, vừa đủ.

Đó là khoảng cách giữa chúng tôi bây giờ.

Không xa không gần.

Không đau không ngứa.

Có một lần, Đa Đa từ chỗ anh ta về, mang theo một phong bì.

“Bố bảo con đưa cho mẹ.”

Tôi mở ra.

Bên trong là một tấm thẻ ngân hàng, và một mẩu giấy.

Trên tờ giấy chỉ viết một câu:

“Ba trăm nghìn tiền đặt cọc ban đầu và số tiền em đã ứng trước những năm qua, anh đều đã tính rõ. Trong thẻ có 460 nghìn, em cầm lấy. Mật khẩu là ngày sinh của Đa Đa.”

Tôi nhìn dòng chữ đó.

Chữ của anh ta vẫn như mười năm trước, ngay ngắn, vuông vức, từng nét rõ ràng.

460 nghìn.

Anh ta đã tính.

Thật sự đã tính rành rọt từng khoản tiền tôi đã bỏ ra suốt những năm đó.

Tiền mua thức ăn, tiền điện nước, tiền đăng ký lớp năng khiếu cho Đa Đa, tiền mua quần áo cho anh ta, tiền quà cáp mỗi dịp lễ tết cho mẹ chồng.

Anh ta đều nhớ.

Không phải không biết, mà là trước đây không để tâm.

Tôi cất thẻ ngân hàng vào ngăn kéo.

Không trả lại, cũng không giả vờ khách sáo nói “không cần”.

Đó là thứ tôi xứng đáng có.

Số tiền này là tôi dùng mười năm dậy sớm, mười năm chờ đợi, mười năm nước mắt để đổi lấy.

Tôi nhận nó một cách đường hoàng.

Lại qua nửa năm nữa.

Số khách hàng của studio ổn định ở mức bảy tám người, thu nhập đủ để tôi và Đa Đa sống tử tế.

Tô Dao nói tôi nên thuê một văn phòng đàng hoàng.

“Cậu xem, cậu còn nhận cả bộ thiết kế VI cho trung tâm thương mại rồi mà vẫn làm ở phòng làm việc tại nhà, không ra gì cả.”

Tôi nghĩ một lúc.

Tuần sau đi xem ba nơi, cuối cùng chọn một căn phòng nhỏ trong tòa nhà văn phòng.

Hai mươi mét vuông, tiền thuê mỗi tháng 2.800 tệ, có thể đặt một chiếc bàn dài và một giá sách.

Ngày ký hợp đồng, môi giới hỏi tên công ty.

“Thiết kế Phương Ninh.”

Môi giới đưa hợp đồng qua cho tôi ký tên.

Tôi ký tên mình xuống.

Phương Ninh.

Hai chữ rơi xuống, nét bút rất nhẹ.

Tâm trạng của tôi hoàn toàn khác với ba tháng trước, khi ký vào thỏa thuận ly hôn.

Lần đó là dấu chấm.

Lần này là dấu phẩy.

Đa Đa đã vào tiểu học rồi, thích nghi nhanh hơn tôi tưởng.

Con bé kết thêm hai người bạn mới, một bé tên là Tiểu Ngư, một bé tên là Đường Đường.

Mỗi ngày tan học, con bé líu ríu kể chuyện ở trường, ai cãi nhau với ai, hộp bút của ai đẹp nhất, hôm nay cô giáo khen ai.

Dáng vẻ con bé cười lên, khóe miệng cong cong, lộ ra hai chiếc răng cửa vừa thay mới.

Hôm đó tôi đến trường đón con, con bé chạy như bay tới, ôm chầm lấy chân tôi.

“Mẹ! Hôm nay con vẽ một bức tranh, cô giáo bảo sẽ dán lên hành lang!”