“Ghi chép dịch đạo.” Hắn buông lời, “Biên quân qua lại, quân lệnh điều động, dọc đường đều lưu dấu vết. Ta vừa tra ra một trang, có lẽ cô nương sẽ dùng tới.”
Ta đón lấy, rũ mắt xem xét.
Trên đó, ngày tháng, lộ trình, thời gian dừng đỗ, thảy đều ghi chép rành rành.
Và trong đó có vài tháng, rành rành lại trùng khớp với thời điểm Liễu Nhu Nương xưng là “có thai”.
Lúc bấy giờ, Bùi Triệt căn bản không có mặt ở kinh thành.
Chẳng phải muộn vài ngày, cũng chẳng phải sớm vài ngày.
Mà là hoàn toàn không có mặt.
Đầu ngón tay ta từng chút siết lại, suýt nữa vò nát tờ giấy.
Cuối cùng.
Cuối cùng cũng có một bằng chứng sắt thép, đủ sức đâm rách đôi chữ “huyết mạch” trong miệng Liễu Nhu Nương.
Tạ Hành dán mắt vào ta, giọng vẫn bình ổn.
“Bùi Nhị cô nương, giờ thì cô nương nên thấu tỏ rồi.”
“Thứ cô nương tra xét, không chỉ là một hài tử.”
“Mà là thứ mà cả một đám người đang liều chết chôn vùi.”
Ta ngước đầu lên, chạm ánh mắt hắn.
Tây thành mây đen vần vũ, tiểu viện xơ xác hoang tàn, không khí nhang nhác vị ẩm mốc quyện lẫn vị đắng nghét của xác thuốc.
Nhưng ngay phút chốc ấy, cõi lòng ta lại sáng tỏ lạ thường.
Liễu Nhu Nương, mụ đỡ, đơn thuốc, ghi chép dịch đạo.
Mỗi sợi chỉ, ta đều nắm chặt trong tay.
Vậy thì tiếp theo, đã đến lượt ta lôi cổ từng kẻ một ngoi lên khỏi mặt nước.
Ta nhét mảnh ghi chép dịch đạo cũ vào tay áo, ngước mắt nói: “Đa tạ Tạ đại nhân đã đưa đao.”
Tạ Hành lướt qua ta, không nhận lời ấy, chỉ hờ hững thốt: “Đao trao cho cô nương rồi, dùng thế nào, là việc của cô nương.”
Nói đoạn, hắn quay lưng cất bước, bóng lưng dứt khoát không chút vướng bận.
Ta đứng sững tại chỗ, đăm đăm nhìn hắn rời đi, trong lòng chỉ vương lại vài dòng chữ trên tờ giấy nọ.
Vài tháng Liễu Nhu Nương rêu rao có thai, Bùi Triệt hoàn toàn bặt vô âm tín ở kinh thành.
Lần này đây.
Ta muốn xem ả làm thế nào để cứng đầu nhét đứa trẻ ấy vào gia phả Bùi gia.
***
Gió ở Quốc công phủ càng lúc càng buốt giá.
Kỳ tang chưa mãn, nhưng trong phủ đã thôi rền rĩ tiếng khóc, mà nặng nề những mưu toan.
Lúc ta từ tây thành trở về, trời đã nhá nhem. Lồng đèn dưới hiên chao đảo nhẹ theo gió, hắt bóng xuống nền gạch nom như đang run lẩy bẩy. Ngân Bình giúp ta vén rèm bước vào, Thẩm thị đương ngồi dưới ánh đèn, bên tay trải sẵn mấy cuốn sổ cũ, ngón tay đặt hờ trên một trang, nửa ngày chẳng hề xê dịch.
Dạo này người tiều tụy đi nhiều, sắc mặt nhợt nhạt, thế nhưng vẻ ôn hòa nhún nhường thường ngày nay đã hao mòn phân nửa.
Như một phiến ngọc lâu ngày dầm nước lạnh, cuối cùng cũng hiển lộ độ sắc sảo thực sự.
“Về rồi sao?” Người ngước nhìn ta.
Ta gật đầu, lần lượt lấy ra đơn thuốc và ghi chép dịch đạo, đặt lên bàn.
“Mụ đỡ đẻ khai rồi à?”
“Chỉ khai phân nửa.” Ta đáp, “Nhưng đủ dùng.”
Thứ Thẩm thị xem trước tiên là mảnh ghi chép dịch đạo cũ kia.
Người lướt từng dòng, nhịp thở cũng dần nặng nề.
“Mấy tháng này…” Giọng người thắt lại, “Bùi Triệt căn bản không có mặt ở kinh thành.”
“Phải.”
Ta kể rành rọt lại lời của bà mụ. Chuyện Liễu Nhu Nương hốt thuốc an thai, liều lượng không khớp với tháng tuổi, chuyện ả cố ý tạo giả thai tượng sinh non, chuyện có người rình rập theo dõi bà mụ, thậm chí chẳng nương tay mưu toan diệt khẩu tại trận.
Gian phòng tĩnh mịch.
Tĩnh đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng hoa đăng thi thoảng nổ lách tách.
Thẩm thị nghe xong, im bặt một lúc lâu.
Ta thừa hiểu người đang nghĩ gì.
Nghĩ về những ủy khuất nhẫn nhịn ngần ấy năm, nghĩ về những thỏi bạc mồ hôi nước mắt tuôn ra, nghĩ về cái danh Quốc công phu nhân rỗng tuếch, để rồi trơ mắt nhìn ngoại thất được nuôi nấng ở Thanh Phong trang, nuôi đến độ cả kinh thành đều hay biết, rốt cuộc còn ngang ngược định cưỡi lên đầu cưỡi cổ người.

