Ta trình bày lại toàn bộ những manh mối mà Tạ Hành vừa truyền đạt.

Đến hai chữ “đào binh”, bàn tay cầm chiếc lược ngọc của Thẩm thị khựng lại rõ rệt.

“Bộ thuộc biên quân…” Nàng lẩm bẩm, “Thảo nào, thảo nào Liễu Nhu Nương những năm qua luôn kinh hãi việc có người điều tra đám người cũ ở trang tử. Nếu chỉ là bao che cho việc lén lút nuôi ngoại thất, ả chẳng cần phải sợ hãi đến mức ấy.”

Phải.

Nếu chỉ là đồ không biết liêm sỉ, thì chẳng đến mức run sợ như thế.

Chỉ khi vướng vào cái tội tày đình dính líu đến tính mạng, ả mới bo bo giữ lấy cái quá khứ kia như giữ lấy sinh mệnh của mình.

“Có một việc.” Thẩm thị quay người lại, lôi từ dưới đáy hộp trang điểm ra một tờ danh sách cũ kỹ, “Hôm qua ta lục được từ chỗ nhũ mẫu hồi môn. Năm đó đứa trẻ đầy tháng, đúng lý ra phải có người chứng kiến, có danh sách sính lễ, có điểm chỉ của mụ đỡ. Nhưng trên tờ danh sách này, lại ghi chép rất kỳ lạ.”

Ta tiếp nhận xem xét.

Quả nhiên kỳ lạ.

Lễ đầy tháng tổ chức cực kỳ sơ sài, những người chứng kiến đều mập mờ danh tính, đến cả quy trình tặng quà đáp lễ cũng giống như vội vã chắp vá. Đáng nói nhất là, những nhân vật chủ chốt nhất, thảy đều không để lại tên thật.

“Đây là sợ lộ sáng.” Ta kết luận.

Thẩm thị gật đầu, sắc mặt dần trở nên lạnh giá.

“Nếu đứa trẻ thực sự là con của Bùi Triệt, bọn họ hẳn đã đánh trống khua chiêng cho thiên hạ biết. Cớ gì phải giấu đầu lòi đuôi thế này.”

Ta xếp gọn tờ danh sách.

Đến đây, các chứng cứ đã dần hình thành.

Ghi chép dịch đạo chứng minh Bùi Triệt không ở kinh thành.

Đơn thuốc minh chứng Liễu Nhu Nương cố tình làm giả thai tượng.

Bà đỡ xác nhận đứa trẻ không phải đẻ non như ả nói.

Manh mối về lão bộc và kẻ mặc áo đi đêm, lại ngấm ngầm chỉ thẳng mặt người cha thực sự của đứa trẻ, chính là một tên lính đào ngũ từ biên cương.

Chỉ còn thiếu một nhát búa quyết định.

Chỉ cần phía Tạ Hành ghim chặt kẻ đó, ván cờ mở từ đường này, chúng ta sẽ lật ngược thế cờ triệt để.

Thế nhưng ngay lúc này, Lão phu nhân lại ra tay.

Quá ngọ, Thượng phòng truyền lời gọi ta và Thẩm thị cùng đến.

Lúc ta bước vào, người của nhị phòng đã có mặt.

Lão phu nhân tựa mình trên nhuyễn tháp, bạo bệnh càng làm bà ta thêm phần già nua, sắc mặt xám xịt nhưng đôi mắt vẫn sáng quắc, tựa ngọn đèn dầu sắp cạn nhưng vẫn cố bùng cháy rực rỡ một phen. Liễu Nhu Nương cũng hiện diện, ôm rịt lấy Bùi Thừa An ngồi khép nép ở dãy ghế dưới, đôi mắt sưng húp, hiển nhiên là vừa mới khóc xong.

Thấy mẹ con ta bước vào, không gian trong phòng bỗng chốc lặng thinh.

Cảm giác ấy, hệt như một phường tuồng đã dựng sẵn phông màn, chỉ đợi mẹ con ta bước lên đài mà diễn vai tuồng này.

Thẩm thị hành lễ rồi an tọa, sắc mặt bình thản.

Ta đứng lặng sau lưng người, chẳng thèm cất lời trước.

Y như rằng, Lão phu nhân là người khai khẩu đầu tiên.

“Trong nhà dạo này liên tiếp không yên ổn, cái thân già này của ta cũng chẳng kham nổi sự trì hoãn thêm nữa.” Bà ta chậm rãi buông lời, “Chuyện của Thừa An đứa bé này, không thể lơ lửng mãi được.”

Thẩm thị ngước mắt lên: “Ý của mẫu thân là?”

“Mở từ đường.” Lão phu nhân nói, “Mời các vị tộc lão đến, định đoạt chuyện thừa kế, ghi danh vào tộc phả.”

Bầu không khí trong phòng tức thì căng như dây đàn.

Liễu Nhu Nương như cố nén sự kích động, cúi rạp đầu, tay ôm đứa bé càng thêm siết chặt.

Nhị thẩm nương liền hùa theo: “Mẫu thân nói chí phải. Quốc công gia đã khuất bóng, đứa trẻ không thể mãi vô danh vô phận. Ngoài kia thiên hạ đang bàn ra tán vào, càng kéo dài, e rằng sẽ tổn hại đến thanh danh Bùi gia.”

Tổn hại thanh danh Bùi gia ư?

Ta suýt nữa thì phì cười.

Cái thứ làm nhục nhã gia phong đang nằm chình ình trong vòng tay các người kìa, vậy mà các người còn mặt mũi thốt ra mấy lời ấy.

Thẩm thị chưa vội đáp lời.