Nhưng hôm nay tinh thần ông vô cùng minh mẫn, đôi mắt sáng rõ. Tỳ nữ đẩy cửa sổ ra, ánh nắng ban mai chiếu rọi lên hoàng bào trên người ông lấp lánh chói lòa, tựa ngọn đèn sáng giữa căn phòng tối.

“Lệnh Nghi, đẩy trẫm đi thượng triều.”

Ta đẩy ông lên điện Thái Hòa, dừng lại trước ngai vàng. Bá quan dưới điện khấu đầu bái lạy, nội giám định dìu ông lên ngai vàng, ông lắc đầu, cứ thế ngồi lại.

Ông hỏi thăm tình hình chính sự dạo gần đây, nhắc nhở kỷ cương phép tắc, giao phó trọng trách cho vài vị đại tướng công. Lại quay sang dặn ta: “Dân sinh xã tắc là nhiệm vụ hàng đầu, việc bổ nhiệm bá quan phải rõ mười mươi trong lòng. Giao thương qua lại, trao đổi hàng hóa, phải cân bằng thích đáng. Gặp chuyện lớn phải ứng phó ra sao, trẫm đã dặn dò cháu nhiều lần rồi.”

Lòng ta quặn thắt, cảm thấy dường như ông muốn nhường ngôi.

Vậy mà ông cứ dặn dò mãi, thái y lệnh bước lên điện. Thái y chưa từng lên tiền triều bao giờ, lúc này nhìn văn võ bá quan hai bên, có chút lúng túng luống cuống.

Hoàng tổ phụ vẫy ông ta tiến lên, im lặng một tích tắc, sau đó như đã hạ quyết tâm buông lời: “Trẫm ốm liệt giường hơn hai tháng nay, dạo này nửa người tê liệt không thể kiểm soát, bệnh tật hành hạ đau đớn khó lòng chống chọi. Nay giao phó chuyện trọng đại lúc lâm chung cho các khanh, mong chư vị đồng tâm hiệp lực, phò tá trữ quân, để Đại Chiếu ta quốc thái dân an, xuân thu hưng thịnh.”

“Trẫm nay hành động không thể tự chủ, không muốn bị giam hãm trong vòng luẩn quẩn, nhìn giang sơn mà lực bất tòng tâm. Đặc biệt thỉnh cầu thái y lệnh phối một bát thuốc ngay trên điện, để trẫm ra đi thanh thản.”

Ông vừa dứt lời, quần thần dưới điện thảy đều quỳ mọp, đồng thanh can ngăn bệ hạ không thể làm vậy. Ta cũng bàng hoàng đến mức quên cả cử động, trân trân nhìn ông không thốt nên lời.

Sau lưng ta có người gọi bệ hạ, ta ngoái đầu nhìn lại, là Tạ Gia Tụng.

“Bệ hạ, ngài nay khó bề tự uống thuốc. Liều thuốc độc này nếu để người khác đút, há chẳng phải giống hệt như tội thí quân? Chúng thần kính yêu bệ hạ, thà chết chứ không muốn làm chuyện đại nghịch bất đạo này.”

Dưới điện liên tiếp nổi lên những tiếng “Đúng vậy đúng vậy”, “Tạ đại nhân nói có lý”, đến cả Khâu công công cũng quỳ mọp xuống bảo lão nô cũng không dám làm chuyện tày trời này.

Trên gương mặt bình thản của hoàng tổ phụ bỗng nở nụ cười hiền hậu, chậm rãi ngước mắt nhìn ta.

Ánh mắt này giáng một đòn chí mạng, đóng băng ta tại chỗ, vực dậy lời nguyền định mệnh đã ngủ vùi suốt hai mươi lăm năm.

Thuở ấu thơ ta ngước lên nhìn ông, hỏi về số kiếp của hai ông cháu ta. Nay ông ngước lên nhìn ta, cầu xin ta thực hiện lời tiên tri đó.

Trong đôi mắt già nua nhưng không đục ngầu của ông, có sự thản nhiên đối diện với cái chết, và cả sự van lơn đau đớn.

Thời trai trẻ ông cũng từng chong đèn thức trắng đến lầu Phàn, vung kiếm rắc máu vì non sông đất nước. Ông đã ngồi trên ngai vàng sau lưng suốt hơn bốn mươi năm, được coi là một vị hoàng đế tốt lưu danh muôn thuở. Nay về già, đàn con bất hiếu bất tài, bản thân bị bệnh tật giam hãm trong chốn nhỏ hẹp, đêm đêm đau đầu mất ngủ, đến cả việc xin một cái chết thanh thản cũng phải nhờ cậy người khác.

Ta từng ngưỡng mộ nhất việc ông thấu rõ số mệnh mà không né tránh, nhưng số phận lại dành cho ông một tuổi già đầy sự bất kham như vậy. Thế nên ông không muốn nhẫn nhịn nữa, ông muốn một cái kết đoan trang, để ta làm kẻ đao phủ được định sẵn trong số kiếp.

Cái thân xác già nua ấy mắc kẹt tại chỗ, nhưng tận sâu trong đáy mắt lại ánh lên khao khát tự do mãnh liệt.

Ta nghe thấy tiếng mình cất lên: “Để cháu tiễn người.”

Hoàng tổ phụ mãn nguyện mỉm cười, chầm chậm gật đầu.

Bá quan lại bắt đầu hô hào khuyên can ta nghĩ lại, da đầu ta vẫn râm ran tê dại, nhưng lại vô cùng bình tĩnh nói với thái y lệnh: “Đi sắc thuốc.”

32

Bát thuốc khiến người ra đi không hay không biết này phải được sắc ngay tại chỗ, hiệu quả tốt nhất là trong vòng nửa canh giờ.

Thái y lệnh lui xuống sắc thuốc. Trong mắt hoàng tổ phụ phản chiếu một mảng xanh thẳm, là khoảng trời ngoài điện Thái Hòa. Ông nói: “Kiểu Kiểu, đẩy ta ra vườn thượng uyển ngồi một lát đi. Tổ mẫu cháu thích nhất mấy gốc mẫu đơn đó, bà ấy chắc chắn sẽ hỏi thăm ta.”

Ông lại điểm danh thêm vài vị trọng thần, bảo họ cùng đi.

Hôm nay là một ngày đẹp trời, mây quang gió tạnh, ánh xuân ấm áp. Ta đẩy ông dạo bước trên những lối đi nhỏ trong vườn hoa, như thể chỉ là hai ông cháu trong một gia đình bình thường.

Tổ phụ quay đầu ra hiệu cho ta dừng lại, bảo ta hái một bông mẫu đơn đặt vào tay ông. Tay ông không còn sức lực, chỉ có thể khum hờ, chẳng biết có cảm nhận được sự mềm mại của cánh hoa hay không.

“Đóa hoa này theo ta chôn cất đi, mang cho tổ mẫu cháu. Bà ấy đợi ta bao năm như vậy, chắc chắn sẽ oán trách ta.”

Trong vườn bày một chiếc ghế mây, chắc hẳn là do ông sai người chuẩn bị trước. Ta xốc nách tổ phụ, dìu ông lên ghế mây, lúc này mới phát hiện ông đã bị bệnh tật giày vò đến mức da bọc xương.