Trên người anh Ba Triệu Dã lúc nào cũng có những vết bầm tím. Đó là dấu vết do người cha dượng nghiện rượu thường xuyên đánh đập anh để lại.
Những người anh khác cũng đều có biến cố gia đình riêng.
Có người bị bỏ rơi ở ga tàu, có người lang thang đầu đường xó chợ sau khi cha mẹ qua đời.
Những năm ấy, hàng xóm trong ngõ thường nói xấu sau lưng bà. Họ bảo bà cứ thích ôm việc xui xẻo vào người, chuyên nhặt những đứa trẻ “không ai cần” về nhà, sớm muộn gì cũng bị đám lưu manh nhỏ này làm cho tức chết.
Bà rất ghét câu nói đó.
Mỗi khi nghe thấy, bà đều dừng bước, nghiêm túc nhìn đối phương.
“Chúng không phải không có ai cần.”
Giọng bà cứng rắn, không cho phép bất kỳ ai phản bác.
“Bây giờ tôi cần chúng.”
Thế nhưng lúc mới đến, chín người anh chẳng ai biết ơn.
Họ giống như những con nhím, luôn sẵn sàng làm tổn thương bất kỳ người nào đến gần để bảo vệ bản thân.
Có người nửa đêm trèo tường trốn đi, bị bà cầm đèn pin tìm thấy rồi đưa về từ quán Internet.
Có người đánh nhau với bạn học, đánh vỡ đầu người ta khiến phụ huynh tìm đến tận nhà mắng chửi.
Cũng có người cố ý đập mạnh bát cơm xuống đất, nghểnh cổ nhìn bà, thử xem bà có giống những người lớn trước đây, mắng cho một trận rồi đuổi mình đi hay không.
Bà chưa bao giờ nuông chiều họ, nhưng cũng chưa từng đuổi họ đi.
Đánh nhau, bà dẫn họ đến bệnh viện cúi đầu xin lỗi người bị hại, đồng thời bồi thường tiền thuốc men.
Trốn học, bà bê một chiếc ghế nhỏ ngồi dưới mái hiên, nhìn họ học bù hết phần kiến thức bị bỏ lỡ, cho dù phải thức đến nửa đêm.
Cố ý phá hỏng đồ đạc, bất kể là đồ trong nhà hay của người khác, bà tuyệt đối không dọn hậu quả thay họ.
Đập vỡ kính nhà người ta thì phải sang làm việc để bồi thường, quét nhà, lau bàn, chuyển than, làm đến khi chủ nhà hài lòng mới thôi.
Nhưng dù ban ngày họ phạm phải sai lầm lớn đến mức nào, dù bị bà phạt đứng bao lâu, tối về nhà, dưới ánh đèn vàng nhạt, trên bàn vẫn luôn có một bát cơm nóng hổi dành cho họ.
Trong nhà bà không có những bài giảng đạo lý dài dòng, chỉ có ba quy tắc không được phép vi phạm.
Bà dùng bút lông viết ba câu lên tờ lịch, dán ở nơi dễ nhìn thấy nhất trong gian nhà chính:
“Không được ăn trộm.”
“Không được bắt nạt người yếu hơn mình.”
“Trời tối phải về nhà ăn cơm.”
## 03
Tôi là người cuối cùng đến với gia đình này.
Mùa đông năm ấy tuyết rơi rất lớn.
Bà phát hiện tôi trước cổng trại phúc lợi khi đến thăm một đồng nghiệp cũ.
Khi ấy tôi chưa đầy một tuổi, còn chưa biết đi.
Tôi sốt cao, cổ họng đã khản đặc vì khóc, được bọc trong một chiếc áo phao người lớn cũ kỹ. Trong túi áo sát người chỉ có một mảnh giấy ghi ngày tháng năm sinh.
Khi bà đưa tôi về nhà, chín người anh đồng loạt vây quanh chiếc giường nhỏ cũ kỹ vừa được dọn ra tạm thời.
Chín cái đầu chụm vào nhau, chẳng ai dám đưa tay chạm vào tôi.
Khi ấy anh Cả Chu Tranh mười sáu tuổi, đang ở độ tuổi nổi loạn nhất.
Tóc anh nhuộm lộn xộn, đỏ vàng xen kẽ, mặc quần bò rách, ánh mắt ngang ngược bất cần, trông cũng dữ nhất.
Thế nhưng khi tôi khóc đến xé ruột xé gan, người khác bế thế nào cũng vô dụng. Chỉ khi anh vụng về đỡ tôi trong khuỷu tay, cứng đờ người nhẹ nhàng lắc lư, tôi mới kỳ diệu im lặng.
Anh Hai Trần Thực thấy tôi đói đến khóc lớn liền chủ động đi pha sữa.
Anh chưa từng làm việc này, cứ tưởng cho sữa bột cũng giống như nêm muối lúc nấu cơm, càng nhiều thì càng đậm đà.
Anh múc hơn nửa bình sữa bột, pha thành một cục đặc sệt rồi đút cho tôi ăn, khiến tôi táo bón nghiêm trọng suốt hai ngày. Sau đó anh bị bà cầm chổi đuổi đánh khắp sân.
Anh Ba là người ít nói nhất.
Anh lén đến cửa hàng sửa xe ở góc phố, vá lốp xe đạp cho người ta suốt hai tuần, hai bàn tay dính đầy bùn đen rửa mãi không sạch.
Đến ngày nhận lương, anh chạy thẳng vào trung tâm thương mại, dùng số tiền lẻ ít ỏi ấy mua cho tôi một đôi giày da đế mềm màu đỏ.
Đôi giày được đặt bên cạnh gối của tôi, đỏ đến chói mắt.
Khi ấy anh Chín Lâm Xuyên chỉ lớn hơn tôi ba tuổi. Bản thân còn nói chuyện bằng giọng trẻ con nhưng đã biết bê một chiếc ghế nhỏ đến ngồi canh bên giường tôi.
Dường như anh đã nhận ra thân phận “anh trai” của mình. Mỗi ngày anh đều ngồi bên giường, vừa chảy nước mũi vừa không biết mệt mỏi hát cho tôi nghe những bài đồng dao sai nhạc hoàn toàn.
Sau khi cảm giác mới mẻ ban đầu qua đi, những công việc vụn vặt khi chăm sóc trẻ sơ sinh khiến đám thiếu niên này bắt đầu chán ngán.
Bà lập một bảng phân công trực nhật cho các anh.
Người lớn tuổi phụ trách giặt tã, pha sữa. Người nhỏ tuổi phụ trách đưa đồ, canh chừng tôi, phát hiện tôi khóc thì lập tức gọi người đến.
Họ tụ tập phản đối, cau mày, vẻ mặt mất kiên nhẫn:
“Tại sao chứ? Bọn cháu việc gì phải trông trẻ con?”
Bà đang cầm kéo sửa quần áo cho tôi, không ngẩng đầu lên, thản nhiên đáp:
“Bởi vì sau này con bé sẽ gọi các cháu là anh.”
Câu nói ấy giống như một lời nguyền, không hiểu sao lại trấn áp được chín đứa trẻ ngỗ nghịch.
Sau này, khi bắt đầu tập nói, âm tiết đầu tiên tôi phát ra không phải là “bà”.
Mà là một tiếng “anh” mơ hồ.
Ngày hôm ấy, sân nhà vốn yên tĩnh lập tức nổ tung.
Anh Cả Chu Tranh khăng khăng nói tôi đang nhìn anh nên gọi anh.
Anh Hai Trần Thực chỉ vào bình sữa, nói tôi nhìn người pha sữa nên chắc chắn gọi mình.
Anh Chín Lâm Xuyên dùng giọng trẻ con nói rằng ngày nào anh cũng hát cho tôi nghe, tiếng “anh” ấy tuyệt đối là gọi anh.
Chín người vì tranh cãi xem tôi gọi ai mà xô đẩy nhau, thậm chí lôi cả chuyện cũ ra tính sổ, cãi suốt một đêm.
Mãi đến khi bà hất một chậu nước rửa chân ra giữa sân, họ mới chịu im miệng.

