Ngày giấy báo trúng tuyển Đại học Thanh Hoa được chuyển đến, cả khu dân cư đều chấn động.
Phóng viên báo địa phương dẫn theo quay phim, vác máy móc đến căn nhà nhỏ hẹp nhưng sạch sẽ của chúng tôi để phỏng vấn.
Phóng viên cầm micro, dùng giọng điệu xúc động đã chuẩn bị sẵn, hỏi bà đang ngồi trên ghế mây:
“Thưa cụ, cụ thật sự quá vĩ đại. Xin hỏi cụ đã làm thế nào để nuôi dưỡng mười người hoàn toàn không có quan hệ huyết thống trở thành người tài?”
Bà khẽ nhíu mày.
Bà không thích cách nói “nuôi dưỡng thành tài” đầy vẻ bề trên ấy.
Bà cầm gậy, chỉ về phía chín người anh đang bận rộn trong sân, rót trà và đưa thuốc cho hàng xóm đến chúc mừng.
“Đồng chí phóng viên, cô nói sai rồi. Chúng không cần chờ đến hôm nay mới được gọi là thành tài. Chúng đã thành tài từ lâu.”
Giọng bà không lớn nhưng cả sân đều nghe rõ:
“Thằng Cả chỉ cần nhắm mắt nghe tiếng động cơ cũng biết xe hỏng ở đâu. Đó là bản lĩnh.”
“Thằng Hai có thể đứng trước bếp cả ngày, nấu một bàn thức ăn khiến người ta ăn ngon miệng. Đó cũng là bản lĩnh.”
“Thằng Ba lái một chiếc xe tải lớn như vậy, ngày đêm bôn ba, có thể bình an giao hàng đến tay người ta. Đó càng là bản lĩnh.”
“Những đứa cháu của tôi sống bằng sức mình, chưa từng làm chuyện trái lương tâm. Không thể nói chỉ vì hôm nay em gái chúng thi đỗ Thanh Hoa thì mới được gọi là thành tài.”
“Chỉ cần sống ngay thẳng, không làm điều hổ thẹn thì đều là người có tài.”
Phóng viên sửng sốt trước những lời ấy một lúc, sau đó quay người đưa micro cho tôi.
“Em Trình An, em có cảm thấy những nỗ lực suốt hơn mười năm của mình cuối cùng đã thay đổi số phận của cả gia đình không?”
Tôi nhìn những người anh đang đứng cách đó không xa, ngây ngô cười với mình, kiên định lắc đầu.
“Không phải.”
Tôi nhìn vào ống kính, vô cùng nghiêm túc nói:
“Trước khi tôi thi đỗ Thanh Hoa, các anh đã dựa vào chính mình để thay đổi số phận của bản thân.”
“Gia đình này chưa bao giờ cần tôi cứu rỗi. Tôi chỉ đi xa hơn một chút trên con đường mà họ dùng đôi tay mình lát sẵn cho tôi.”
Sau khi cuộc phỏng vấn kết thúc, cuộc sống vẫn phải tiếp tục.
Ngày đến Bắc Kinh nhập học càng lúc càng gần, chín người anh lại bắt đầu tranh cãi vì một chuyện nhỏ.
Họ tranh nhau trả học phí và tiền sinh hoạt cho tôi.
“Anh là anh Cả. Anh cả như cha, học phí đương nhiên phải để anh chịu toàn bộ.”
Chu Tranh vỗ ngực.
“Anh đã dùng căn cước của mình mở cho con bé một thẻ ngân hàng, liên kết với tài khoản của anh. Mỗi tháng anh sẽ chuyển tiền sinh hoạt đúng hạn.”
Trần Thực đặt mạnh tấm thẻ lên bàn.
Anh Ba không chịu thua:
“Tiền tàu cao tốc và vé máy bay đi về trong bốn năm đại học, bất kể đắt thế nào đều do anh lo!”
Anh Bảy trực tiếp bê vào một thùng giấy lớn:
“Anh nhờ bạn lên tỉnh lấy về một chiếc máy tính xách tay cấu hình mới nhất.”
Đối mặt với đám người tranh nhau móc tiền, tôi lớn tiếng tuyên bố rằng nhờ thành tích cao nên đã nhận được học bổng tân sinh viên. Nhà trường cũng gọi điện nói có trợ cấp, hoàn toàn không cần nhiều tiền như vậy.
Ngoài mặt, họ liên tục gật đầu, miệng đồng ý:
“Được, không tiêu bừa, em cứ giữ lại dùng.”
Nhưng sau lưng, vào đêm tôi thu dọn hành lý, những món quà mỗi người chuẩn bị không thiếu một thứ.
Trần Thực mang từ bếp sau về vài chiếc lọ thủy tinh được bịt kín, bên trong đầy tương bò và tương cay do chính tay anh nấu.
Anh dán nhãn lên nắp, thở dài nói:
“Đồ ăn miền Bắc đậm vị. Dạ dày người miền Nam của em lỡ không quen thức ăn trong nhà ăn Bắc Kinh thì trộn chút tương mà ăn, tuyệt đối không được để đói.”
Anh Sáu đưa cho tôi một cuốn album dày và nặng.
Bên trong là toàn bộ ảnh của tôi từ nhỏ đến lớn, bên cạnh còn cẩn thận ghi ngày tháng và địa điểm.
Cuối cùng, anh Chín bước đến, đặt một chiếc điện thoại thông minh mới nhất vào tay tôi.
Điện thoại đã được khởi động, màn hình chính sạch sẽ.
Tôi mở danh bạ ra, bên trong chỉ lưu mười số điện thoại, được sắp xếp ngay ngắn theo thứ tự: bà, sau đó từ anh Cả Chu Tranh đến anh Chín.
Anh Chín nhìn tôi, bỏ hẳn vẻ cợt nhả ngày thường, nghiêm túc dặn:
“An An, đến nơi xa, bất kể gặp phải chuyện gì, dù em cảm thấy khó xử lý đến đâu cũng đừng tự chịu đựng một mình.”
“Gặp chuyện không giải quyết được thì gọi điện trước.”
“Chín người bọn anh lúc nào cũng có mặt.”
## 11
Mang theo sự kỳ vọng của cả gia đình, tôi lên chuyến tàu hướng về phương Bắc.
Nhưng sau khi bước vào ngôi trường hàng đầu cả nước, tôi lại ép bản thân đến một góc nguy hiểm.
Tôi đã quá quen với việc trở thành người được cả nhà đặt nhiều hy vọng.
Mặc dù bà từng nói tôi không cần báo đáp, trong tiềm thức, tôi vẫn cảm thấy bản thân đang gánh trên vai tâm huyết của mười thành viên gia đình.
Tôi sợ thành tích của mình không tốt sẽ lãng phí từng đồng tiền các anh kiếm được dưới nắng nóng và giá lạnh để đóng học phí cho tôi.
Tôi sợ nếu bản thân sống ở Bắc Kinh mà không có tiền đồ, sẽ phụ lòng bà đã đưa tôi về nhà trong mùa đông đầy gió tuyết ấy.
Dưới áp lực như vậy, học kỳ đầu tiên ở đại học, tôi thật sự sống rất khổ sở.
Ngoài giờ lên lớp, gần như toàn bộ thời gian tôi đều ở trong thư viện, cố gắng đọc những cuốn sách chuyên ngành khó hiểu nhất.
Cuối tuần, bạn cùng phòng đi dạo phố, xem phim, còn tôi đến một nơi rất xa làm gia sư để tiết kiệm tiền sinh hoạt.
Đến kỳ nghỉ đông và nghỉ hè, người khác thu dọn hành lý về nhà đoàn tụ, tôi lại cố chấp ở lại trường, mặt dày xin tham gia nhóm dự án của giảng viên, muốn tích lũy thêm kinh nghiệm cho hồ sơ của mình.
Lịch sinh hoạt cường độ cao và áp lực tinh thần cuối cùng vẫn đánh gục cơ thể tôi.
Một đêm vào học kỳ hai năm thứ hai, dạ dày tôi đột nhiên đau quặn.
Cơn đau nhanh chóng lan rộng, thế giới trước mắt dần tối sầm.
Cuối cùng, tôi ngã mạnh xuống nền gạch lạnh lẽo, hoàn toàn mất ý thức.
Cố vấn học tập đưa tôi đến phòng cấp cứu ngay trong đêm, đồng thời lập tức liên lạc với người nhà được ghi trong danh sách liên hệ khẩn cấp.
Chiều hôm sau, giữa mùi thuốc khử trùng nồng nặc, tôi khó khăn mở mắt trên giường bệnh và nhìn thấy hai người ngồi bên cạnh.
Đó là anh Cả Chu Tranh và anh Chín, đã mua vé đứng, đỏ mắt đi suốt đêm đến Bắc Kinh.
Trên người Chu Tranh thậm chí vẫn mặc bộ quần áo làm việc ở tiệm sửa xe, chứng minh anh nhận được điện thoại liền chạy thẳng đến ga tàu.

