Tôi nấu ăn cho người hàng xóm bại liệt 78 tuổi suốt 16 năm, khi giải tỏa đền bù bà ấy cho họ hàng toàn bộ 13 triệu tệ (hơn 45 tỷ VNĐ), tôi không nói gì, một tuần sau tôi nhận được 5 tin nhắn từ ngân hàng.**
“Tô Niệm, cô hầu hạ mẹ tôi 16 năm, đến cuối cùng chẳng xơ múi được đồng cắc nào, trong lòng chắc khó chịu lắm nhỉ?”
Con trai cả của nhà họ Chu là Chu Kiến Quốc đứng trước cửa ban giải tỏa đền bù, tay cầm tờ thỏa thuận bồi thường, cười đến mức nếp nhăn trên mặt xô hết vào nhau.
Phía sau ông ta là cô con gái thứ hai Chu Tú Lan, con trai thứ ba Chu Kiến Quân, và mấy người họ hàng xa mà tôi chẳng gọi nổi tên.
Một đám người vây quanh tôi, ánh mắt lộ rõ vẻ hả hê.
Tôi không nói gì.
Chu Tú Lan bước tới, vỗ vai tôi, giọng điệu mang đậm vẻ ban phát: “Tiểu Tô à, cô cũng đừng trách chúng tôi. Bà cụ lớn tuổi rồi, đầu óc lẩm cẩm, số tiền này đưa cho nhà chúng tôi cũng là lẽ đương nhiên. Dù sao chúng tôi cũng là con ruột, cô chỉ là người dưng, hầu hạ bà ấy chừng ấy năm cũng coi như là tích đức đi.”
Tôi vẫn không nói gì.
Chu Kiến Quân xua tay mất kiên nhẫn: “Nói nhảm với cô ta làm gì? Đi thôi đi thôi, tối nay cả nhà mình đi ăn mừng thật linh đình.”
Lúc bọn họ quay người rời đi, Chu Kiến Quốc ngoảnh lại nhìn tôi, khóe miệng nhếch lên nụ cười đắc ý.
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, nhìn bóng lưng họ khuất dần nơi góc phố.
Gió thổi qua, hơi lạnh.
Tôi cúi xuống nhìn đôi bàn tay mình. Đôi bàn tay này 16 năm qua đã nấu bao nhiêu bữa cơm, giặt bao nhiêu lần quần áo, lau người bao nhiêu bận, chính tôi cũng chẳng nhớ rõ nữa.
Nhưng tôi chưa từng nghĩ đến chuyện đòi hỏi báo đáp.
Tôi chỉ cảm thấy, con người sống trên đời, cốt sao không thẹn với lương tâm là được.
Tôi tên là Tô Niệm, năm nay 32 tuổi.
Từ nhỏ tôi đã lớn lên ở xóm Hạnh Phúc. Từng viên gạch, mái ngói trên con phố cũ này tôi đều quen thuộc đến không thể quen thuộc hơn.
Nhà tôi ở căn hộ cũ tít trong cùng con hẻm, tầng ba, hai phòng ngủ một phòng khách, rộng vỏn vẹn bốn mươi mét vuông.
Năm tôi 8 tuổi, bố tôi mất trong một tai nạn giao thông.
Mẹ tôi một mình nuôi tôi khôn lớn. Ban ngày bà làm ở nhà máy, tối về còn nhận đồ vá víu để kiếm thêm.
Cuộc sống chật vật, nhưng mẹ chưa bao giờ để tôi phải chịu đói.
Hồi đó, bà Chu sống ở tầng một thường xuyên giúp đỡ nhà tôi.
Bà Chu tên là Chu Quế Chi, là giáo viên về hưu, chồng mất sớm, bà sống một mình trong căn nhà cấp bốn có khoảng sân nhỏ ở tầng dưới.
Mỗi tháng bà có ba ngàn tệ (khoảng 10 triệu VNĐ) tiền hưu trí, không nhiều nhặn gì nhưng bà luôn sống tằn tiện, dăm bữa nửa tháng lại mang cho tôi chút đồ ăn ngon.
Khi thì bát thịt kho tàu, khi thì đĩa sủi cảo, lúc lại mấy cái bánh bao vừa ra lò.
Lần nào mẹ tôi cũng từ chối, nói không thể làm phiền bà mãi được.
Bà Chu liền sầm mặt: “Tôi ăn một mình không hết, bỏ đi thì phí. Hai mẹ con cô vất vả, cứ coi như giúp tôi dọn dẹp đi.”
Tôi biết, bà thương xót mẹ con tôi.
Sức khỏe mẹ tôi vốn không tốt, sự mệt mỏi tích tụ quanh năm suốt tháng đã để lại di chứng.
Năm tôi lên cấp ba, lưng mẹ bắt đầu đau, sau này nặng đến mức đi lại cũng khó khăn.
Tôi thi đỗ đại học, nhưng nhà thực sự không đào đâu ra tiền học phí.
Mẹ khóc lóc xin lỗi tôi, tôi bảo không sao, con không học nữa, con đi làm kiếm tiền nuôi nhà.
Bà Chu biết chuyện, bèn dúi vào tay tôi ba vạn tệ (hơn 100 triệu VNĐ) mà bà dành dụm suốt hai năm.
Bà nói: “Cháu gái, cầm lấy, đi học đi. Mẹ cháu cứ để bà lo, cháu cứ yên tâm.”
Tôi quỳ sụp xuống đất, dập đầu ba cái tạ ơn bà.
Ba vạn tệ đó là bước ngoặt của đời tôi.
Tôi học xong đại học, ra trường tìm được công việc ở một công ty quảng cáo.
Tuy lương không cao nhưng cũng đủ nuôi sống bản thân và mẹ.
Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, năm thứ hai sau khi tôi ra trường, bệnh tình của mẹ trở nặng.
Tôi đưa bà lên bệnh viện lớn trên tỉnh kiểm tra, bác sĩ bảo mẹ bị suy thận, cần phải chạy thận.
Mỗi tuần hai lần, mỗi lần hơn năm trăm tệ.
Chút tiền lương của tôi căn bản không thấm vào đâu.
Tôi bắt đầu làm hai công việc, ban ngày làm ở công ty, tối đến đi làm thêm ở quán trà sữa.
Mỗi ngày chỉ ngủ bốn năm tiếng, mệt bở hơi tai.
Nhưng tôi chưa bao giờ oán than, vì tôi biết mẹ tôi còn đau đớn hơn tôi nhiều.
Ngay vào lúc tôi khó khăn nhất, thì bà Chu xảy ra chuyện.
Sáng hôm đó, đang trên đường đi làm thì tôi nhận được điện thoại của thím Trương hàng xóm, bảo bà Chu bị ngã, không dậy nổi.
Tôi vội vàng xin nghỉ chạy về, phát hiện bà Chu nằm trên đất, mặt mày trắng bệch, không thể cử động.
Tôi gọi 115, đưa bà vào bệnh viện.
Bác sĩ bảo bà bị xuất huyết não, tuy đã qua cơn nguy kịch nhưng bị liệt nửa người, từ nay chỉ có thể nằm liệt giường.
Ba người con của bà Chu đều ở xa, gọi điện đến thì ai cũng kêu bận, không về được.
Chu Kiến Quốc làm ăn ở Thâm Quyến, bảo dự án đang vào giai đoạn quan trọng, không dứt ra được.
Chu Tú Lan lấy chồng ở Thượng Hải, bảo con sắp thi chuyển cấp, không thể bỏ bê.
Chu Kiến Quân làm công nhân ở Quảng Châu, bảo xin nghỉ bị trừ nhiều tiền quá, không đáng.
Ba người bàn bạc một hồi, gom góp được hai vạn tệ gửi về, bảo tôi giúp đỡ chăm sóc bà cụ.
Tôi nhìn bà Chu nằm trên giường bệnh, mắt bà đỏ hoe nhưng chẳng nói câu nào.
Tôi biết trong lòng bà đau xót lắm.
Con đẻ của mình còn chẳng ngó ngàng, một người dưng lại túc trực bên giường bệnh.
Tôi nhận lấy hai vạn tệ kia, không phải vì tiền, mà là để bà Chu yên tâm.
Tôi xin công ty nghỉ phép dài hạn, túc trực trong bệnh viện cùng bà suốt nửa tháng.
Sau khi xuất viện, bà Chu trở về căn nhà cũ ở xóm Hạnh Phúc.
Tôi nghỉ việc làm thêm ở quán trà sữa. Mỗi ngày tan làm, tôi rẽ qua nhà bà trước, nấu cơm, giặt giũ, lau người, lật người cho bà.
Cuối tuần, tôi đẩy xe lăn đưa bà ra ngoài sưởi nắng, trò chuyện với bà, kể bà nghe những chuyện thú vị ở công ty.
Bà luôn mỉm cười lắng nghe, thỉnh thoảng chêm vào vài câu kể về thời trẻ của mình.
Những tháng ngày như vậy, thấm thoắt trôi qua ba năm.
Ba năm sau, mẹ tôi vẫn ra đi.
Đêm bà mất, bà nắm chặt tay tôi bảo: “Niệm Niệm, đời này mẹ có lỗi với con nhất. Để con phải chịu nhiều tủi nhục, khổ cực. Con phải sống cho tốt, tìm một người tử tế mà lấy, sống cuộc đời của riêng mình.”
Tôi khóc đến mức không nói thành lời.
Mẹ đi rồi, tôi cảm thấy cả thế giới như trống rỗng.
Trong căn hộ nhỏ bé ấy, chỉ còn lại mình tôi.
Mỗi tối đi làm về, đối diện với căn phòng trống hoác, tôi lại thấy nghẹt thở.
Thứ duy nhất khiến tôi cảm nhận được chút hơi ấm, là ngọn đèn ở tầng dưới.
Ngọn đèn nhà bà Chu.
Mỗi lần tôi tăng ca về, dù muộn đến đâu, ngọn đèn trong phòng bà vẫn sáng.
Bà biết tôi sợ bóng tối, nên cố tình để đèn sáng đợi tôi.
Có lần tôi hỏi bà: “Bà Chu, sao bà vẫn chưa ngủ?”
Bà nói: “Đợi cháu đấy. Cháu không về, bà không ngủ được.”
Giây phút ấy, nước mắt tôi suýt trào ra.
Từ đó về sau, tôi càng tận tâm chăm sóc bà hơn.
Mỗi sáng 6 giờ thức dậy, tôi ra chợ mua đồ ăn, rồi qua nhà nấu bữa sáng cho bà.
Buổi trưa tranh thủ giờ nghỉ chạy về, hâm nóng cơm trưa.
Tối tan làm, tôi lại đi nấu bữa tối, giúp bà vệ sinh cá nhân, trò chuyện cùng bà, đợi bà ngủ say tôi mới về nhà.
Sự kiên trì ấy, kéo dài ròng rã 16 năm.

