Bà cụ chắc cũng ngoài tám mươi, gương mặt chằng chịt nếp nhăn, nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời tinh anh.

Thấy tôi, trong mắt bà xẹt qua một tia kích động.

“Cháu là Tô Niệm?”

“Dạ vâng, cháu chào bà.”

Bà cụ nhìn tôi chằm chằm một lượt, hốc mắt dần đỏ lên.

“Giống, giống lắm. Cháu giống y hệt mẹ cháu hồi trẻ.”

Tim tôi đập càng lúc càng nhanh.

“Bà biết mẹ cháu ạ?”

Bà cụ gật đầu: “Bà là dì ruột của mẹ cháu, cũng là người duy nhất trên đời này còn biết tông tích của nó.”

Tôi bước tới, ngồi xuống chiếc ghế đối diện bà.

“Xin bà hãy nói cho cháu biết, mẹ cháu bây giờ đang ở đâu?”

Bà cụ im lặng một hồi lâu, rồi thở dài thườn thượt.

“Mẹ cháu… không còn nữa.”

Câu nói đó như một nhát dao, đâm phập vào tim tôi.

“Không còn nữa… nghĩa là sao ạ?”

“Nó đi rồi. Mười lăm năm trước, ung thư dạ dày giai đoạn cuối, lúc đi mới bốn mươi ba tuổi.”

Nước mắt tôi trào ra ràn rụa.

Tôi tìm lâu như thế, mong ngóng lâu như thế, cuối cùng lại nhận được câu trả lời này.

Bà ấy đã đi mười lăm năm rồi.

Còn tôi, ngay cả mặt bà lần cuối cũng không được nhìn thấy.

Bà cụ lấy từ trong ngăn kéo ra một cuốn album, đưa cho tôi.

“Đây là những thứ mẹ cháu để lại, bà vẫn luôn giữ thay cháu.”

Tôi nhận lấy cuốn album, run rẩy lật mở.

Trang đầu tiên là một bức ảnh màu.

Trong ảnh là một người phụ nữ trẻ trung xinh đẹp, cô ấy đứng dưới một gốc cây nở đầy hoa, nụ cười rạng rỡ vô ngần.

Đường nét gương mặt cô ấy, quả thực rất giống tôi.

Đó chính là mẹ tôi.

Lâm Uyển Thanh.

Tôi tiếp tục lật về sau, mỗi trang đều là một đoạn ký ức.

Có tấm ảnh bà ấy bế một đứa trẻ sơ sinh, mặt sau ghi: “Bảo bối của mẹ, kỷ niệm 100 ngày.”

Có tấm ảnh bà ấy chụp chung với một người đàn ông trẻ tuổi, hai người đứng vai kề vai, trông rất thân mật.

Mặt sau ghi: “Năm 1993, chụp cùng Tiểu Trần.”

Còn có một bức ảnh chụp chung với một người phụ nữ trung niên, hai người ngồi trên bậu cửa căn nhà cổ, cười không khép được miệng.

Mặt sau ghi: “Năm 1998, chụp cùng mẹ.”

Tôi lật từng trang từng trang, như đang lật giở lại cuộc đời ngắn ngủi mà đầy trắc trở của bà.

“Mẹ cháu là một đứa trẻ khổ mệnh.” Bà cụ chậm rãi cất lời, “Nó từ nhỏ đã không có bố, nương tựa vào bà ngoại cháu mà sống. Bà ngoại cháu sức khỏe yếu, gánh nặng gia đình dồn hết lên vai nó.”

“Năm nó 18 tuổi thì quen một người đàn ông, chính là bố cháu. Hai người tình cảm rất tốt, nhanh chóng có thai cháu. Nhưng nhà nội cháu không đồng ý mối hôn sự này, chê bai gia cảnh mẹ cháu thấp kém. Bố cháu không chịu nổi áp lực gia đình, cuối cùng đã vứt bỏ hai mẹ con.”

“Mẹ cháu một mình sinh cháu ra, vốn định một mình nuôi cháu khôn lớn. Nhưng lúc đó nó còn quá trẻ, lại không có công ăn việc làm, thực sự không nuôi nổi. Cuối cùng hết cách, đành phải gửi cháu vào Viện phúc lợi.”

“Sau này nó có đi tìm cháu, nhưng cháu đã được người ta nhận nuôi mất rồi. Nó dò hỏi suốt mấy năm trời, nhưng bặt vô âm tín. Về sau nó lấy một người đàn ông hiền lành chất phác, chuyển đến thành phố bên cạnh, không bao giờ quay lại nữa.”

“Trước lúc lâm chung, nó nắm chặt tay bà, bảo rằng điều hối tiếc lớn nhất đời nó là không được gặp cháu một lần. Nó dặn bà nhất định phải tìm được cháu, giao thứ này cho cháu.”

Bà cụ sờ xuống dưới gối lấy ra một chiếc hộp nhung màu đỏ, đưa cho tôi.

Tôi mở hộp ra, bên trong là một chiếc nhẫn bạc.

Chiếc nhẫn rất đỗi bình thường, kiểu dáng cũng đã lỗi thời, nhưng mặt trong chiếc nhẫn có khắc một dòng chữ nhỏ:

“Mẹ mãi mãi yêu con.”

Tôi siết chặt chiếc nhẫn trong tay, từng giọt nước mắt rơi lã chã.

“Lúc đi, bà ấy có để lại lời nào không ạ?” Tôi nghẹn ngào hỏi.

Bà cụ gật đầu: “Nó nói, nó không cầu xin cháu tha thứ, chỉ mong cháu có thể sống hạnh phúc. Nó nói, nếu có kiếp sau, nó nhất định sẽ bù đắp thật tốt cho cháu.”