Giọng Kiều Ân vừa ngọt vừa mềm.

“Hôm nay Đông chí, thiếp mạo muội muốn mời Thế tử đọc một bài thơ hợp cảnh để góp vui. Đông nguyệt mà, bài 《Bạch Tuyết Ca Tống Vũ Phán Quan Quy Kinh》 là thích hợp nhất. Không biết Thế tử có thuộc không?”

Trên bàn tiệc yên lặng trong chốc lát.

Tay trái ta đặt trên mép bàn, đầu ngón tay lún vào đường may của khăn trải. Bài thơ ấy có mười tám câu, phần lớn là thất ngôn, lại nhiều chữ ít gặp. Trẻ bảy tuổi bình thường chưa chắc thuộc nổi ba câu đầu.

Tiêu Cẩn đặt đũa xuống, đứng dậy.

Cẩn nhi đi tới giữa sảnh, trước tiên hành lễ với Thái phi, cúi người rồi đứng thẳng, sau đó xoay người nhìn thẳng vào mặt Kiều Ân.

“Gió Bắc cuốn đất, cỏ trắng gãy; trời Hồ tháng Tám đã tuyết bay.”

Cẩn nhi cất tiếng.

“Bỗng như một đêm gió xuân tới, ngàn cây vạn cây lê nở hoa.”

Từng câu từng câu nối tiếp, không hề vấp váp. Giọng không lớn, nhưng từng chữ đều rõ ràng, cả sảnh ai cũng nghe thấy. Đến câu “Tuyết chiều lất phất xuống cổng quân, gió kéo cờ đỏ đông không phất”, chén rượu trong tay Thái phi đã được đặt xuống, thân người hơi nghiêng về phía trước.

Đến câu “Núi quanh đường ngoặt chẳng thấy người, trên tuyết chỉ còn dấu ngựa đi.”

Câu cuối cùng dứt xuống.

Tiêu Cẩn thở ra một hơi, xoay sang Kiều Ân, cúi người hành lễ. Lúc đứng thẳng lại, Cẩn nhi cười một chút, giọng không lớn nhưng người trên cả bàn đều nghe rõ.

“Kiều di nương chê cười rồi. Chỉ là vừa rồi di nương nói ‘hợp cảnh’, con có một chuyện không hiểu.”

“Đông nguyệt ở Giang Nam không có tuyết, bài này viết cái rét khắc nghiệt nơi biên tái. Nếu di nương thật sự muốn nghe bài hợp cảnh, hôm khác chẳng bằng con đọc một bài 《Giang Nam Khúc》 cho di nương nghe?”

Nụ cười nơi khóe môi Kiều Ân đông cứng.

Chén rượu trong tay nàng chao một cái, rượu tràn ra bắn lên vạt váy màu ngó sen, loang thành một mảng sẫm. Nàng cứng đờ tại chỗ, nâng chén cũng không được, hạ xuống cũng chẳng xong.

Thái phi đặt đôi đũa ngang miệng bát.

Một tiếng khẽ vang lên.

“Hay.”

Bà nhìn Tiêu Cẩn, khóe môi cong lên.

“Hay cho một Tiêu Cẩn, còn giỏi hơn cha ngươi hồi nhỏ.”

Cả sảnh lúc này mới như sống lại. Có người vỗ tay, có người cười phụ họa. Khi Kiều Ân lui về chỗ, vết rượu ướt trên váy vẫn không che nổi. Nàng cúi đầu ngồi xuống, không ngẩng lên nữa.

Sau khi tiệc tan, Thái phi giữ Tiêu Cẩn lại nói chuyện. Ta đứng dưới hành lang Thọ Khang đường chờ. Gió đêm lùa vào làm vạt áo phất lên, Tôn ma ma đưa áo choàng tới, ta nhận nhưng không khoác. Đợi chừng hai khắc, Tiêu Cẩn từ trong đi ra, đến trước mặt ta ngẩng đầu.

“Nương, Thái phi khen hài nhi.”

Ta đưa tay vuốt phẳng nếp gấp ở cổ áo Cẩn nhi.

“Thái phi còn nói nương dạy hài nhi rất tốt.”

“Con đáp thế nào?”

Tiêu Cẩn nghĩ một chút: “Hài nhi nói nương phạt hài nhi học thuộc. Đọc sai thì quỳ kho củi, quỳ xong tự khắc sẽ nhớ.”

Tay ta khựng lại một chút, không nói gì, nắm tay Cẩn nhi đi về. Ra khỏi sân Thọ Khang đường, đi xuyên hành lang và nguyệt môn, lúc về đến Thiều Hoa viện, tiểu nha hoàn đã thắp đèn.

Tiêu Cẩn ngáp một cái, nhũ mẫu dẫn Cẩn nhi vào trong rửa mặt súc miệng. Ta đứng trong chính sảnh không động. Đợi tiếng bước chân Cẩn nhi đi vào phòng trong rồi xa hẳn, ta mới đẩy cửa ám thất.

Bảy quyển sổ chất trên án, bên cạnh là quyển 《Phủ Khố Mật Đương Bị Khảo Lục》.

Ta đưa tay đặt lên bìa, mặt giấy lạnh ngắt dưới lòng bàn tay.

Ngày mai.

Ngày mai ta sẽ đến Thọ Khang đường.

9

Mùng tám Đông nguyệt, trời còn chưa sáng ta đã thức dậy.

Khi Tôn ma ma bưng chậu đồng bước vào, ta đã chỉnh tề y phục. Bảy quyển sổ đặt ngay ngắn trên khay, trên cùng đè quyển 《Phủ Khố Mật Đương Bị Khảo Lục》. Ta bưng lên ước lượng một chút, không nặng, toàn bộ giấy cộng lại cũng chỉ dày chưa đến nửa ngón tay.

Ta ôm khay rời khỏi Thiều Hoa viện.

Đèn trong Thọ Khang đường đã sáng. Thái phi vốn dậy sớm, giờ này vừa dùng xong tảo thiện. Ta quỳ ngoài rèm, đầu gối đè lên nền gạch xanh, cúi rạp người xuống.

“Thái phi, thiếp Lâm Như cầu kiến.”

Qua chừng thời gian uống một chén trà, bên trong mới truyền ra một tiếng: “Vào đi.”

Ta quỳ gối tiến vào, nâng khay qua đầu, dâng lên trước án. Thái phi ngồi trên trường kỷ, vừa đặt đũa bạc xuống, lấy khăn lau khóe miệng rồi cúi nhìn chồng đồ trên khay.

“Đây là gì?”

“Xin Thái phi cho phép thiếp bẩm.” Ta lần lượt mở bảy quyển sổ đến những trang kẹp giấy. “Hai tháng thiếp thay Vương phi quản nội trạch, đã đối chiếu từng khoản thu chi của hậu trạch trong tám năm. Những khoản quản sự các nơi biển thủ, khai khống, lĩnh khống, từng bút đều có trong sổ. Tổng cộng ba nghìn tám trăm bảy mươi hai lượng.”

Thái phi đưa tay lật xem, sắc mặt từng chút từng chút trầm xuống.

Lật tới quyển thứ ba, ngón tay bà dừng lại trên một trang.

“Thanh Âm các tháng Chạp năm ngoái lĩnh ba trăm cân than Ngân Sương.”

“Dạ.”

“Than Ngân Sương một lượng bạc một cân. Ba trăm cân là ba trăm lượng.” Thái phi ngẩng mắt nhìn ta. “Một thiếp thất xuất thân vũ cơ như nàng ta, một mùa đông đốt hết ba trăm lượng bạc tiền than?”

Ta phủ phục dưới đất, không động.

“Thái phi minh giám. Thiếp đã tra ghi chép dùng than của Thanh Âm các. Cả Đông nguyệt năm ngoái, Kiều di nương thực lĩnh chỉ bốn mươi bảy cân than ra khỏi kho. Hai trăm năm mươi ba cân còn lại, trên sổ ghi là ‘nhập kho’. Nhưng trong sổ thực tồn của Bắc khố lại chẳng có số than dư này.”

Thái phi đập quyển sổ xuống án, mạnh đến mức chén trà rung lên.

“Người đâu? Gọi Kiều Ân tới đây cho ai gia.”

Kiều Ân bị hai ma ma kẹp hai bên kéo vào. Tóc tai nàng rối tung, mắt còn sưng, rõ ràng vừa bị kéo khỏi giường. Nàng vừa nhìn thấy ta quỳ bên rèm, lại thấy những quyển sổ mở trên án, cả khuôn mặt lập tức trắng bệch.

Thái phi ném trang sổ kia xuống dưới chân nàng.

“Kiều Ân, ngươi nói cho ai gia nghe xem, hai trăm năm mươi ba cân than Ngân Sương này đi đâu rồi?”