Hứa Thừa An không giỏi dỗ dành người khác. Tôi tăng ca về muộn, anh không nhắn hàng tá tin tra hỏi tại sao chưa về. Anh chỉ lẳng lặng nấu cơm sẵn từ sớm, đợi tôi về ăn.

Cơm canh nguội, anh lại hâm nóng; tôi chưa về kịp, anh lại hâm thêm lần nữa. Tôi cằn nhằn anh rất nhiều lần, bảo anh cứ ăn trước đi. Lần nào anh cũng vâng dạ, nhưng lần sau vẫn cứ ngồi đợi như cũ.

Sau này chúng tôi tốt nghiệp, công việc dần ổn định. Ngày anh cầu hôn tôi cũng chẳng có hoa tươi rải đầy phòng, càng không có bạn bè vây quanh hò reo náo nhiệt.

Hôm đó chúng tôi vừa chuyển tới một căn nhà thuê nhỏ. Anh mất cả buổi chiều để lắp chiếc giá sách mới mua, mùn cưa vương vãi khắp sàn nhà.

Tôi đi làm về, thấy anh ngồi xổm dưới đất, mu bàn tay còn dính đầy bụi bẩn. Anh bỗng nhiên ngước lên hỏi tôi:

“Thẩm Vọng Thư, em có bằng lòng cùng anh trả nợ tiền mua nhà không?”

Tôi ngơ ngác mất một lúc:

“Ý anh là sao?”

Anh lấy từ bên cạnh hộp đồ nghề ra một chiếc hộp nhỏ. Bên trong là một chiếc nhẫn. Không phải thương hiệu đắt đỏ gì, nhưng lại là mẫu nhẫn mà những lần đi dạo phố tôi từng lén nhìn ngắm rất nhiều lần.

Tôi mắng anh có phải bị điên rồi không, tiền trả trước mua nhà của hai đứa còn thiếu một khoản lớn kia kìa.

Anh lại cười bảo:

“Nhà thì có thể từ từ mua, nhưng cầu hôn thì phải làm trước chứ. Không thì đợi đến lúc gom đủ tiền, ngộ nhỡ em chê anh già rồi không thèm lấy thì sao?”

Tôi vừa cười vừa khóc, rồi vừa khóc vừa đưa tay ra cho anh đeo nhẫn.

Đêm hôm đó, trong căn phòng thuê chỉ có một chiếc ghế sô pha và một chiếc giá sách vừa lắp xong, chúng tôi đã ngồi nói chuyện suốt đêm về tương lai.

Sẽ mua một căn nhà thế nào. Sau này có nuôi mèo không. Ai chịu trách nhiệm nấu cơm. Ai chịu trách nhiệm rửa bát. Đến cả chuyện sau khi cãi nhau ai sẽ là người xin lỗi trước, chúng tôi cũng nghiêm túc bàn bạc.

Hứa Thừa An nói:

“Ai sai thì người đó xin lỗi trước.”

Tôi cố tình vặn vẹo:

“Thế nếu cả hai người đều thấy mình không sai thì sao?”

Anh nghĩ ngợi một hồi:

“Thế thì đi ăn cơm trước đã. Ăn no rồi cãi tiếp.”

Tôi cười mắng anh là đồ không có tiền đồ. Anh lại siết chặt tay tôi, vô cùng nghiêm túc nói:

“Vọng Thư, anh chỉ muốn cùng em sống những ngày tháng thật bình yên thôi.”

Sau đó, chúng tôi quyết định tổ chức đám cưới vào ngày mười bảy tháng chín.

Hôm đi chọn lễ đường, Hứa Thừa An đưa tôi đi xem ba nơi. Cuối cùng, chúng tôi chọn Lễ đường Du Thụ. Nơi đó không phải đẹp nhất, có phần hơi cũ kỹ, trang trí cũng chẳng lộng lẫy xa hoa. Nhưng bên ngoài cửa sổ có một cây du rất cao lớn. Ánh nắng ban trưa sẽ xuyên qua lớp kính thủy tinh, rọi xuống lối đi gần cửa ra vào.

Tôi đứng ở đó, tưởng tượng ra cảnh tượng mình mặc váy cưới bước vào lễ đường. Hứa Thừa An bỗng gọi tôi từ phía sau:

“Thẩm Vọng Thư.”

“Gì thế anh?”

“Em cười cái gì đấy?”

Tôi quay người lại:

“Có gì đâu.”

Anh bước tới, nhìn theo hướng mắt tôi về phía lễ đường, bỗng nhiên hiểu ra:

“Muốn gả cho anh rồi chứ gì?”

Tôi đỏ mặt đá anh một cái:

“Ai thèm gả cho anh.”

Anh cười kéo tay tôi lại:

“Kệ em, dù sao thì anh cũng muốn cưới em.”

Về sau, vì đám cưới này mà chúng tôi từng cãi nhau một trận. Tôi muốn mời thêm nhiều bạn bè, trang trí hội trường thật lộng lẫy một chút. Nhưng anh lại kiên quyết cắt giảm ngân sách.

Hôm đó tôi có chút tủi thân, cảm thấy anh không coi trọng ngày cưới của hai đứa. Anh nghe tôi trách móc xong, không vội vàng biện minh, chỉ lấy danh sách chi tiêu đã liệt kê ra, ngồi tính toán lại từng khoản một cùng tôi:

“Vọng Thư, anh không phải không muốn tổ chức cho em một đám cưới thật hoành tráng. Anh chỉ nghĩ, đám cưới chỉ diễn ra trong một ngày, nhưng cuộc sống sau khi kết hôn thì còn rất nhiều, rất nhiều ngày nữa. Chúng ta không thể đem hết số tiền để sống sau này tiêu sạch vào