Bà bắt mạch xong, lại xem qua đơn thuốc ta kê, không bới móc được lỗi sai nào.
Chỉ lấy từ trong hòm thuốc ra một chiếc lọ nhỏ.
“Dùng thứ này áp chế trước đi. Xà sàng tử ăn lâu ngày, tâm hỏa bị khơi lên, ban
đêm sẽ đau đớn lắm.”
Tiêu Hành không nói gì. Quản gia lại đỏ bừng hốc mắt.
Ta hỏi Tiền thúc: “Sổ sách ba năm trước đâu?”
Tiền thúc đưa cho ta một cuốn sổ bìa xanh: “Cô nương, lô thuốc cung cấp mùa đông
ba năm trước, ghi chép trên sổ đều đầy đủ. Nhưng đêm qua ta lật xem lại, phát
hiện có một tờ lộ trình sai lệch.”
Tờ lộ trình là giấy ghi chép chỉ đường mà thương đội để lại khi áp tải hàng hóa.
Lô thuốc đó xuất phát từ Tế Xuân Đường ra khỏi kinh thành, theo quy củ phải đi
qua trạm Đông Dịch, rồi chuyển hướng lên đường bộ phía Bắc. Nhưng trên tờ lộ
trình lại có thêm một trạm dừng.
Nam Dịch.
Ta chỉ vào dòng chữ đó: “Ai cho phép đổi?”
Tiền thúc đáp: “Người áp tải hàng năm đó tên là Lưu Hỷ. Sau này chết rồi.”
Tiêu Hành lên tiếng: “Chết như thế nào?”
“Rơi xuống nước.” Tiền thúc nói xong, liếc nhìn ta một cái: “Ngay tháng thứ ba
sau khi vụ án quân dược nổ ra.”
Trong phòng không ai lên tiếng.
Ta lật sang trang tiếp theo, bên cạnh tờ lộ trình kẹp một tấm vé nhỏ, trên đó
chỉ có một dòng chữ: Niêm phong tại Nam Dịch, Trần Ký Dược Hành đại diện áp
tải.
Trần Ký.
Ta ngẩng đầu: “Gia đình mà Thẩm Minh Châu sắp gả vào, có phải mang họ Trần
không?”
Tiền thúc gật đầu: “Đích thứ tử của Trần Lang trung Bộ Hộ.”
Tiết đại phu cười lạnh: “Thảo nào lại đòi ba gian tiệm thuốc làm hồi môn. Tiệm
thuốc là giả, cái bảng hiệu Tế Xuân Đường này mới là thật.”
12
Bảy ngày giao quân dược không thể dừng lại. Chuyện này là khó giải quyết nhất.
Nếu chúng ta không giao, quân đội Bắc Cảnh thiếu thuốc, danh tiếng mười một năm
của Tế Xuân Đường cũng sẽ đứt đoạn.
Nếu chúng ta giao, chẳng khác nào đi dọn dẹp đống hỗn độn thay cho Thẩm Minh
Châu.
A Mãn nghe xong, vò đầu bứt tai: “Cô nương, hay là chúng ta chỉ giao một nửa
thôi?”
Tiết đại phu trừng mắt mắng: “Trong quân đội lấy nửa hộp cao bôi lên nửa bàn
chân à?”
A Mãn đành câm nín.
Ta nhìn bản khế ước trên bàn. Tờ giấy đã ố vàng. Nơi mẫu thân ta in dấu tay năm
xưa, màu mực đã nhạt đi thành màu nâu đỏ.
Ta nói: “Giao.”
Tiền thúc cau mày: “Cô nương, như vậy chẳng phải là tiện nghi cho nhà họ Thẩm
sao?”
“Không.”
Ta cầm lấy chiếc ấn đồng.
“Lô thuốc này xuất phát từ Tế Xuân Đường thành tây. Bọc giấy niêm phong không
dùng mẫu cũ của Đông Thị. Dùng ấn này. Trên văn thư viết rõ: Thẩm Ninh của Tế
Xuân Đường bổ sung quân dược Bắc Cảnh.”
Tiết đại phu liếc nhìn ta một cái: “Con muốn dựng nên một Tế Xuân Đường mới
sao?”
“Không phải là muốn.” Ta đáp. “Mà là chỉ có thể làm thế.”
Đêm đó, căn nhà nhỏ trong ngõ Hòe Thụ thành tây sáng đèn rực rỡ suốt đêm. Căn
nhà thực sự nằm cạnh tiệm quan tài. Gió từ đầu ngõ thổi vào, mang theo mùi tro
giấy tiền vàng bạc.
Trần bà tử vừa phơi thuốc vừa chửi rủa: “Tiệm ở Đông Thị đàng hoàng không cần,
cứ phải chui rúc vào cái xó quỷ quái này.” Chửi xong, lại xê dịch mấy cái nia
thuốc lại gần đống lửa.
A Mãn mang theo hai tiểu học đồ nghiền thuốc, nghiền đến tận nửa đêm, cổ tay
sưng vù cả lên.
Tiết đại phu đích thân giám sát việc phối dược. Bà không tin tưởng người khác.
Tiền thúc đứng bên cạnh đối chiếu sổ sách. Một hộp cao trị nhọt, một gói bột cầm
máu, tất cả đều phải vào sổ.
Tiêu Hành phái hạ nhân của Hầu phủ tới giúp khuân vác thuốc. Chính chàng cũng
tới. Quản gia khuyên không được, đành khoác cho chàng một chiếc áo choàng dày.
Chàng ngồi ngoài cửa, nhìn ta đóng dấu.
Cộp. Cộp.
Ấn đồng hạ xuống tờ giấy niêm phong. Hai chữ “Tế Xuân” được chu sa in ra rực rỡ.
Đến nửa đêm về sáng, cổ tay ta mỏi nhừ không nhấc lên nổi. Tiêu Hành vươn tay,
muốn làm thay ta. Ta không nhường.
Chàng nói: “Ta chỉ đóng ấn thôi.”
Ta đáp: “Ấn này không thể tùy tiện giao cho người khác.”
Tay chàng khựng lại giữa không trung. Rồi từ từ rụt về.
“Cũng đúng. Đợi ba năm rồi, đâu kém gì một đêm nay.”
Khi ta đóng dấu lên rương cuối cùng, trời bên ngoài đã tờ mờ sáng. Đầu ngõ có
tiếng xe đẩy bán điểm tâm sáng đi ngang qua. Hơi nóng bốc lên, hòa lẫn với mùi
hương thuốc và mùi tro giấy.
Ta chợt nhớ đến mẫu thân. Ngày trước bà cũng thường như vậy, trời chưa sáng đã
ngồi sau quầy đóng ấn. Lúc đó ta chê ồn ào, trùm chăn kín đầu. Bà cách tấm rèm
gọi ta: “A Ninh à, người ngủ nướng thì không thể làm đông gia (chủ quán) được
đâu.”
Ta khi đó đáp lại bà: “Vậy con không làm.”
Bà mỉm cười bảo: “Đâu do con quyết định được.”
Thì ra, thực sự không do ta quyết định được.
13
Ngày thứ bảy, Quân Nhu ty đến đối chiếu.
Trước cửa ba gian Tế Xuân Đường ở Đông Thị bu đông nghẹt người. Nhà họ Thẩm đã
cho người dọn dẹp lại cửa tiệm. Tấm biển hiệu được lau chùi sáng bóng.
Thẩm Minh Châu mặc một bộ y phục màu xanh nhạt, đứng sau lưng phụ thân. Trên mặt
kế mẫu không còn chút máu.
Người nhà họ Trần cũng tới. Đứng đầu là Trần Lang trung. Trông ông ta rất hòa
nhã, râu ria cắt tỉa gọn gàng. Khi nhìn thấy ta, ông ta còn gật đầu chào.
“Thẩm Thiếu phu nhân.”
Cách xưng hô này thật vi diệu. Không gọi ta là Thẩm cô nương, cũng không gọi ta
là Tế Xuân Đường đông gia. Chỉ gọi ta là Thiếu phu nhân Hầu phủ. Giống như đang
nhắc nhở tất cả mọi người rằng, ta đã lấy chồng rồi. Nữ nhi gả ra ngoài, không
nên nhúng tay vào cửa tiệm của nhà mẹ đẻ nữa.
Ta đáp lễ: “Trần đại nhân. Nghe nói lệnh lang sắp cưới muội muội ta. Sao hôm nay
ngài cũng đến xem đối chiếu quân dược thế này?”
Trần Lang trung cười đáp: “Tế Xuân Đường nếu đã vào hồi môn của Minh Châu cô
nương, sau này với nhà họ Trần cũng coi như có chút quan hệ. Ta đến xem thử,
không có gì là quá đáng chứ.”
“Đương nhiên là không quá đáng.” Ta nói. “Vừa vặn chuyện đổi niêm phong ở Nam
Dịch ba năm trước, cũng có chút quan hệ với Trần Ký Dược Hành.”
Nụ cười của ông ta nhạt dần.

