Ngày thứ bảy sau khi nhập viện, tôi nôn ra máu trong nhà vệ sinh. Không nhiều, nhưng vô cùng chói mắt.

Lúc Diệp Tranh đẩy cửa bước vào, tôi đang chống tay lên bồn rửa mặt, tay nắm chặt một cục giấy. Mặt cô ấy tức khắc trắng bệch.

“Chị Thẩm, rốt cuộc chị bị bệnh gì vậy?”

Tôi vứt cục giấy vào thùng rác, súc miệng.

“Ung thư gan.”

Cô ấy đứng chết trân ở cửa, nửa ngày không nói nên lời.

Tôi tưởng cô ấy sẽ sợ hãi. Suy cho cùng ung thư giai đoạn cuối, con người ta sẽ trở nên rất khó coi, cũng rất khó chăm sóc. Những cơn đau, nôn mửa, mất ngủ, cảm xúc thất thường, mỗi một thứ đều đày đọa người khác.

Nhưng Diệp Tranh chỉ bước tới, đỡ tôi ngồi xuống, giọng ép xuống rất nhỏ: “Giai đoạn cuối ạ?”

Tôi gật đầu. Hốc mắt cô ấy lập tức đỏ hoe.

Tôi đâm ra có chút luống cuống: “Em đừng khóc.”

Diệp Tranh quay mặt đi, đưa tay quệt khóe mắt: “Em không khóc.”

Cô ấy sụt sịt mũi, đưa cốc nước cho tôi.

“Chắc đau lắm nhỉ?”

Câu nói này nhẹ tựa lông hồng, nhưng rơi xuống lại nện chặt khiến lồng ngực tôi nghẹn ứ. Tôi cầm cốc nước, đầu ngón tay không còn chút sức lực nào.

Lúc ở Nam Thành, tôi chưa từng than đau với bất kỳ ai.

Bác sĩ hỏi, tôi bảo vẫn ổn.

Cố Hoài Thanh hỏi, tôi nói dạ dày khó chịu.

Mẹ tôi hỏi, tôi bảo ngủ không ngon.

Cơn đau bám riết lấy tôi mỗi ngày, từ lúc mở mắt đến lúc nhắm mắt, có lúc đang ngủ say cũng bị nó giật tỉnh. Tôi nuốt mọi âm thanh vào trong bụng, lâu dần, đến chính tôi cũng sắp quên mất rằng hóa ra đau đớn là điều có thể nói thành lời.

Diệp Tranh ngồi xổm trước mặt tôi, hỏi lại lần nữa: “Có phải đau lắm không?”

Tôi cúi đầu. Nước mắt rơi tõm vào cốc, mặt nước khẽ xao động.

“Rất đau.”

Diệp Tranh không nói những lời an ủi. Cô ấy chỉ nắm lấy tay tôi, lòng bàn tay rất ấm.

Đăng Đăng từ gầm giường chui ra, đi đến bên chân tôi, ngửa cổ kêu lên một tiếng. Tôi bế nó lên, nó liền ngoan ngoãn nằm rạp trong lòng tôi, cọ cọ cái đầu nhỏ vào ngực tôi.

Từ sau hôm đó, Diệp Tranh chăm sóc tôi càng tỉ mỉ hơn.

Cô ấy sẽ xếp thuốc theo từng giờ, sẽ canh chừng tôi ăn một chút đồ, sẽ ngồi bên giường trò chuyện cùng tôi những lúc tôi đau đến không ngủ được. Cô ấy kể chuyện bát quái trên đảo, kể những chuyện mất mặt hồi còn ở trường điều dưỡng, cũng kể về một chú mèo mướp mà cô ấy từng nuôi.

Đăng Đăng dần chấp nhận cô ấy. Tuy vẫn chưa cho bế, nhưng đã cho phép cô ấy thay nước thêm hạt.

Tôi bắt đầu sắp xếp ba phong thư.

Phong thư thứ nhất là Nhật ký bệnh tình. Từ ngày nhận kết quả chẩn đoán, cho đến lúc rời đi vào dịp kỷ niệm ngày cưới, mỗi trang giấy đều ghi rõ ngày tháng, nỗi đau đớn, lựa chọn của Cố Hoài Thanh, sự xuất hiện của Lâm Trĩ, và cả những lời tôi chưa từng nói ra vào mỗi lần đó.

Phong thư thứ hai là sổ tay chăm sóc Đăng Đăng. Nó ăn hạt hãng nào, loại thuốc nào cần tiếp tục tái khám, chân sau bên trái những ngày mưa lạnh có thể sẽ khó chịu, khi ngủ phải để một ngọn đèn ngủ nhỏ, người lạ đến gần không được cưỡng ép bế.

Phong thư thứ ba, viết cho Cố Hoài Thanh. Viết rất nhiều ngày.

Viết đến những ngày sau, ngón tay không cầm nổi bút nữa, Diệp Tranh đã đổi cho tôi một cây bút bi to hơn.

Nhìn thấy cái tên trên phong bì thư, cô ấy im lặng rất lâu.

“Chị định gửi cho anh ta à?”

“Chờ chị chết rồi hẵng gửi.”

Diệp Tranh mím môi, không đáp lời.

Tôi gấp tờ giấy lại, bỏ vào phong bì.

“Anh ấy nên xem qua.”

“Chị có mong anh ta đến đón chị không?”

Tôi đè phong thư xuống dưới cuốn Nhật ký bệnh tình, quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ. Gió biển thổi tung tấm rèm cửa màu trắng, Đăng Đăng vồ theo tấm rèm hai cái, không vồ được, lại vụng về ngồi phịch xuống vạt nắng.

“Không mong.”

Diệp Tranh khẽ hỏi: “Vậy sao còn đưa cho anh ta?”

Tôi vuốt ve đầu Đăng Đăng.