Ta hôn lên trán muội muội, rồi lại hôn lên má ca ca:

“Các con chỉ cần có mẫu thân là đủ rồi.”

Sang ngày hôm sau chàng mới tới.

Đứng ngoài cửa phòng sinh ngó vào một cái, không hề bước chân vào.

“Đã đặt tên chưa?”

“Ca ca gọi là A Chiêu, muội muội gọi là A Nguyệt.”

“A Chiêu, chữ Chiêu rất hay. Đại danh để ta suy xét rồi đặt sau.”

Dứt lời liền rời đi.

Chẳng bế con lấy một lần.

Ngay cả ngạch cửa phòng sinh cũng chưa từng bước qua.

Thu Hòa nhìn theo bóng lưng chàng, chiếc khăn tay vặn vẹo đến biến dạng.

Ta bảo con bé đừng tức giận nữa, mau đổi tã lót cho hài nhi, vừa rồi A Nguyệt lại trớ sữa.

Trong tháng ở cữ, Thái phi tới thăm mấy lần, lần nào cũng mang theo đồ bổ quý giá.

Thái phi là người tốt, nhưng lời ra tiếng vào câu nào cũng mang ý khuyên giải:

“Vương gia bận rộn việc nước, con đừng trách cứ nó. Đợi lũ trẻ lớn thêm chút nữa, nó tự khắc sẽ để tâm thôi.”

Ta mỉm cười vâng dạ.

Trong lòng lại thầm nghĩ: Sẽ không có chuyện đó đâu.

Trái tim chàng chỉ có chừng ấy tấc gang, chứa giang sơn xã tắc, chứa Liễu thị, làm sao còn chỗ dung nạp những thứ khác.

Tiệc đầy tháng hôm ấy, vương phủ náo nhiệt một hồi.

Triều thần dâng không ít lễ vật chúc mừng, đích thân Thái phi đứng ra lo liệu tiệc tùng.

Chàng chỉ lộ diện chốc lát, bế A Chiêu một cái, khen câu “trông kháu khỉnh lanh lợi gớm”, rồi quay ra tiền sảnh thết đãi tân khách.

A Nguyệt từ đầu chí cuối chưa từng được chàng ẵm vào lòng.

Liễu thị cũng tới.

Khoác lên mình bộ xiêm y màu vàng nhạt, tựa vào tay Thúy Bình, bước đi thở dốc từng cơn.

Nàng ta tới chúc mừng ta, hai tay nâng một đôi khóa vàng:

“Chúc mừng tỷ tỷ đại hỷ, đây là khóa vàng muội tự tay đặt thợ đúc cho tiểu thế tử và tiểu quận chúa, kiểu dáng thô thiển, mong tỷ tỷ chớ chê cười.”

Ta đón lấy liếc nhìn một cái.

Vàng ròng nguyên chất, sức nặng không nhỏ, chí ít cũng đáng giá năm mươi lượng.

Nguyệt lệ của nàng ta một tháng ba mươi lượng, lấy đâu ra tiền đúc khóa vàng?

Ta không hỏi.

Thu nhận, rồi mở lời cảm tạ.

Nàng ta ngồi nán lại một lát, trò chuyện với Thái phi vài câu, sau đó cáo từ.

Lúc lướt qua bên cạnh ta, nàng ta hạ thấp giọng buông một câu:

“Tỷ tỷ, Vương gia miệng tuy không nói, nhưng trong lòng mừng rỡ lắm. Tỷ tỷ đừng nghĩ ngợi nhiều.”

Ta nhìn nụ cười của nàng ta, bỗng thấy con người này thật thú vị.

Mỗi một câu nàng ta thốt ra, đều đâm trúng vào chỗ đau đớn nhất của ta.

Nhưng khẩu khí lại vô cùng ôn nhu, từ ngữ thấu tình đạt lý, khiến người ta chẳng thể bắt bẻ lấy nửa lời.

Ba ngày sau tiệc đầy tháng, xảy ra biến cố.

A Nguyệt nửa đêm phát sốt, người nóng hầm hập như hòn than.

Lưu ma ma nửa đêm đi mời Thái y, Thái y tới khám bảo là trúng phong hàn, kê đơn dặn uống liền ba ngày.

Ta thức trắng đêm canh chừng A Nguyệt, sáng hôm sau mắt mở không lên.

Thu Hòa khuyên ta đi chợp mắt một lát, ta không yên tâm, chỉ dựa vào mép giường thiếp đi một chốc.

Trong cơn mơ màng, ta nghe thấy ngoài hiên có tiếng người trò chuyện.

Là tiếng của Thúy Bình:

“Lưu ma ma, Trắc phi chúng ta nghe nói tiểu quận chúa ngã bệnh, đặc biệt sai ta mang ít dược liệu thượng hạng qua.”

Lưu ma ma đón lấy, mở lời tạ ơn.

Thúy Bình lại nói: “Trắc phi còn bảo, tiểu quận chúa nhỏ thế này đã đau ốm, e là phong thủy hậu viện có điều bất ổn, hay là thỉnh tiên sinh phong thủy về xem qua chăng?”

Ta mở bừng mắt.

Lưu ma ma chưa kịp đáp lời, ta từ bên trong đã cất giọng:

“Thúy Bình, thay ta tạ ơn ý tốt của Trắc phi. Dược liệu cứ để lại, còn chuyện phong thủy không phiền nhọc lòng.”

Thúy Bình sững sờ một lát, cười gượng nhận lời rồi lui bước.

Lưu ma ma bưng dược liệu vào cho ta xem.

Ta lật giở mấy gói thuốc, nhặt ra hai gói, đưa cho Thu Hòa:

“Hai gói này mang đi nhờ Thái y nghiệm lại xem sao.”

Thu Hòa đi chừng nửa canh giờ thì trở về, sắc mặt xám xịt như tro tàn:

“Phu nhân, Thái y bảo trong hai gói này có trộn bạc hà! Trẻ nhỏ phong hàn kỵ nhất bạc hà, uống vào bệnh sẽ trở nặng khôn lường!”

Ta trút sạch toàn bộ số dược liệu vào chậu than đốt rụi.

Thu Hòa tức đến run rẩy cả người:

“Phu nhân, ả rõ ràng muốn hại tính mạng tiểu quận chúa! Chúng ta đi bẩm báo với Vương gia!”

“Bẩm báo cái gì? Nói là dược liệu Liễu thị đưa tới có vấn đề sao?”

“Ả rõ ràng cố ý!”

“Ngươi có bằng chứng không? Nàng ta sẽ bảo là hạ nhân nhầm lẫn, nàng ta sẽ khóc lóc, nàng ta sẽ quỳ gối van xin, nói một tấm lòng son bị người ta ngờ vực. Rồi sau đó chàng sẽ tới bảo ta rằng, Liễu thị không phải hạng người như thế, bảo ta chớ nên đa nghi.”

Thu Hòa há hốc mồm, nghẹn ngào không thốt nên lời.

Bởi từng câu ta nói, đều là những chuyện trần trụi đã từng diễn ra trong suốt một năm qua.

Ta ngồi thụp xuống, lấy que cời than gạt gạt tàn thuốc, xác nhận đã cháy thành tro bụi sạch trơn.

Sau đó đứng dậy, dặn Thu Hòa một câu:

“Kể từ hôm nay, ẩm thực chi dùng của hai đứa trẻ, toàn bộ do một tay ngươi lo liệu. Bất kể bên ngoài đưa thứ gì tới, là ai đưa, nhất loạt không được nhận.”

Thu Hòa gật đầu thật mạnh.

Đêm hôm ấy, ta ngồi một mình bên song cửa, ngắm nhìn tuyết rơi ngoài viện.

A Chiêu cùng A Nguyệt ngủ say trong nôi, tiếng thở nhè nhẹ đều đặn.

Ta chợt tự hỏi, rốt cuộc ta còn chờ đợi điều gì nữa?

Chờ chàng quay đầu?

Chờ chàng nhìn thấu bộ mặt thật của Liễu thị?

Chờ chàng bước chân tới hậu viện, ôm lấy cốt nhục của chàng một lần?

Ta chờ đợi ròng rã một năm, chẳng đợi được thứ gì cả.

Nhưng ta đã đợi được một ý niệm:

Đi.

Mang theo hài nhi rời khỏi nơi này.

Rời khỏi chốn thị phi này, rời khỏi con người này, rời khỏi cuộc hôn nhân từ đầu chí cuối chỉ là một cuốn sổ nợ.

Ta cần tiền tài, cần đường lui, cần một kế hoạch chu toàn vạn nhất.

Chàng là Nhiếp chính vương, quyền khuynh thiên hạ, ta muốn trốn đi thì tuyệt đối không được để lộ nửa phần sơ hở.

Bằng không, một đạo quân lệnh của chàng hạ xuống, chân trời góc biển cũng khó lòng thoát khỏi.

Bởi ta đã mang đi đích tử đích nữ của chàng.

Đó là thể diện của chàng, là huyết mạch của chàng, là vật sở hữu của chàng.

Chàng có thể chẳng đoái hoài tới ta, nhưng chàng tuyệt đối không dung thứ cho việc đồ vật của mình bị kẻ khác cuỗm đi.

Cho nên, ta phải đi thật sạch sẽ, đoạn tuyệt.

Khiến chàng tìm không ra, đuổi không kịp, với chẳng tới.

Kể từ ngày hôm đó, ta bắt đầu âm thầm trù tính.

Bên ngoài, ta vẫn là vị Vương phi mỗi ngày giờ Mão thức giấc đối chiếu sổ sách.

Nhưng trong bóng tối, ta đã làm ba việc:

Việc thứ nhất, ta dùng bạc hồi môn khai thông một con đường buôn bán ở Nam Dương.

Phụ thân ta cả đời buôn vải, từ nhỏ ta đã theo người bôn ba, hiểu rõ tuyến đường nào sinh lời, bến cảng nào an toàn.

Ở Nam Dương có một tiểu thành tên An Bình, thương nhân người Hoa tụ hội đông đúc, quan phủ không với tay tới được, thích hợp để an cư lập nghiệp.

Việc thứ hai, ta liên lạc với Trịnh thuyền chủ.

Ông ta chạy tuyến viễn dương hai mươi năm, thuyền to lái vững, quan trọng nhất là kín miệng như bưng.

Ta dùng một tờ diêm dẫn đổi lấy một lời hứa của ông ta: Bất cứ lúc nào cũng có thể đưa người lên thuyền, không hỏi chốn đi.

Việc thứ ba, ta đổi ổ khóa cửa nách hậu viện.

Ổ khóa cũ do vương phủ thống nhất trang bị, Tiền quản sự giữ chìa khóa dự phòng.

Ổ khóa mới ta sai Thu Hòa tìm thợ rèn ngoài thành đúc riêng, chìa khóa duy nhất nằm trong tay ta.

Ba việc này, ta mất nửa năm ròng rã.

Không một ai hay biết.