Tôi ra khỏi phòng, khép nhẹ cửa lại.

Đứng ngoài hành lang, tựa vào tường, ngửa đầu nhìn lên trần nhà.

Để anh ta gặp Niệm Niệm.

Chuyện này tôi đã suy nghĩ ròng rã chín năm nay.

Không phải tôi không muốn cho họ gặp nhau.

Mà là sợ.

Sợ gặp rồi, Niệm Niệm sẽ bị thế giới của anh ta cuốn đi. Sợ con bé sẽ cảm thấy những gì mẹ cho là chưa đủ tốt. Sợ Khương Tự dùng tài nguyên và tiền bạc của anh ta, dễ dàng đánh gục mười năm vất vả của tôi.

Nhưng hôm nay, những giọt nước mắt của Niệm Niệm đã nói cho tôi biết —

Con bé cần biết mình từ đâu đến.

Con bé cần một câu trả lời trọn vẹn.

Dù câu trả lời đó có phức tạp, có đau đớn, có giằng xé đến mức nào.

Tôi lấy điện thoại ra, mở khung chat với Khương Tự.

Gõ hai chữ, rồi lại xóa đi.

Gõ ba chữ, rồi lại xóa đi.

Cuối cùng, dòng tin gửi đi là —

“Chiều thứ Bảy. Quán mì đầu ngõ khu ổ chuột. Ba giờ.”

Tin nhắn trả lời đến gần như ngay lập tức.

“Tôi sẽ đến.”

**【Chương 9】**

Ba giờ kém mười lăm chiều thứ Bảy, tôi dẫn Niệm Niệm đến quán mì.

Quán mì này là quán lâu đời nhất ở khu ổ chuột, mở được hơn hai mươi năm, món mì bò thêm hai thìa ớt của cô chủ quán là món khoái khẩu của Niệm Niệm.

Tôi gọi ba bát mì.

Niệm Niệm nhìn mấy cái bát trước mặt, đếm đi đếm lại hai lần: “Ba bát ạ? Mẹ, còn ai tới nữa thế?”

“Lát nữa con sẽ biết.”

Đúng ba giờ.

Một chiếc xe đỗ trước cửa quán mì. Không phải Maybach, mà là một chiếc sedan màu đen rất bình thường.

Khương Tự đẩy cửa bước vào.

Anh đã thay đổi cách ăn mặc — không mặc vest, không mặc áo dạ. Anh mặc một chiếc áo nỉ màu xanh đậm, quần âu đen dáng thể thao, đi giày sneaker.

Nhưng dù có ăn mặc thế nào, khi đứng trong quán mì nhỏ ở khu ổ chuột, khí chất trên người anh vẫn khiến cả không gian như lùn hẳn đi một khúc.

Niệm Niệm ngẩng đầu nhìn anh một cái.

Rồi quay sang nhìn tôi.

“Mẹ?”

Tôi hít sâu một hơi.

“Niệm Niệm, đây là Khương Tự.”

Tôi ngừng một chút.

“Bố của con.”

Quán mì im phăng phắc.

Tay cầm chai xì dầu của cô chủ quán khựng lại giữa không trung. Bác gái ăn mì ở bàn bên cạnh thậm chí còn quên hạ đũa xuống.

Niệm Niệm chằm chằm nhìn Khương Tự rất lâu.

Khương Tự đứng trước cửa, không nhúc nhích.

Hai tay anh buông thõng, những ngón tay hơi cuộn lại, yết hầu giật lên giật xuống.

“Chào con.”

Giọng anh nhẹ hơn bất kỳ lần nào tôi từng nghe thấy.

Niệm Niệm nghiêng đầu.

“Chú là người đã đi nước ngoài mười năm không về đó hả?”

Khương Tự sững người.

Rồi anh gật đầu.

“Đúng. Là chú.”

“Mẹ đã vì chú mà bán vòng tay của bà ngoại, chú có biết không?”

“Chú biết rồi. Nhưng chú biết quá muộn.”

“Mẹ vì nuôi con, ngày nào cũng ra khỏi nhà lúc 5 giờ sáng để đi giao hàng, mùa đông tay mẹ toàn vết nứt nẻ, chú có biết không?”

“… Chú biết rồi.”

“Vậy sao chú không về?”

Câu hỏi này giống như một nhát dao, đâm chuẩn xác vào tim của tất cả mọi người.

Môi Khương Tự run rẩy.

Anh ngồi xổm xuống, nhìn thẳng vào mắt Niệm Niệm.

“Bởi vì chú đã bị người ta lừa. Chú tưởng mẹ không cần chú nữa.”

“Thế chú không đến hỏi mẹ con sao?”

“Không.”

“Tại sao?”

“Bởi vì…” Giọng Khương Tự khản đặc, “Bởi vì chú quá kiêu ngạo. Chú quá ngu ngốc.”

Niệm Niệm nhìn anh chằm chằm.

Đứa trẻ chín tuổi, ánh mắt trong veo đến mức có thể soi tỏ những góc khuất tăm tối nhất trong lòng người.

“Chú quả thực rất ngu ngốc.”

Khương Tự bật cười.

Một nụ cười đắng chát, tự giễu cợt bản thân, khóe mắt đã đỏ ửng.

“Con nói đúng.”

Niệm Niệm nhìn anh thêm vài giây nữa.

Sau đó đẩy bát mì trước mặt về phía anh một chút.

“Ăn mì trước đi. Nguội là không ngon đâu.”

Khương Tự ngồi xuống đối diện Niệm Niệm.

Lúc anh cầm đũa lên, tay cứ run mãi. Gắp ba lần mới gắp được mì.

Niệm Niệm húp mì sột soạt, thỉnh thoảng ngẩng đầu nhìn anh một cái.

“Chú ăn cay không?”

“Ăn.”