“Là khi bầy sói săn mồi, chúng sẽ cắn đứt chân con mồi trước để nó không chạy thoát được, sau đó mới từ từ xé xác ra thành từng mảnh.”
Ta nhìn hắn, ánh mắt buốt giá,
“Những gì ngài làm với ta năm đó, chính là như thế. Giờ thì, đến lượt ta.”
Sắc mặt hắn trắng bệch.
“Cút đi.”
Ta buông lời cuối cùng,
“Đừng để ta nhìn thấy mặt ngài thêm lần nào nữa.”
Hắn ngồi bệt xuống đất, như một con rối mất hồn đứt dây.
Tưởng Tại Tranh bước tới, hung hăng tung một cước đá văng hắn ra khỏi cổng.
“Nếu còn dám dạ sấm ban đêm,” giọng ngài sắc lạnh như hàn băng,
“Ta sẽ bắt ngươi quỳ mãi mãi.”
Mũi đao thứ tư, là Hạ Dư tự đào mồ chôn mình.
Ả thấy Cận Phong triệt để mất khống chế, sợ ta cướp lại tất cả, nên bèn làm liều.
Ba ngày sau, kinh thành đột ngột truyền tay nhau một bức xuân cung đồ —
Nữ tử trong tranh dung mạo hệt ta, đang quấn quýt bên một nam tử Bắc Địch, mang tựa đề «Tả Hiền Vương phi dạ yến đồ».
Thâm hiểm hơn nữa, bên cạnh bức tranh còn đính kèm một bài thơ:
“Xưa kia bám cành rồng, nay hầu hạ rợ Hồ. Trinh tiết như giày rách, mẹ con tự biệt ly.”
Phút chốc, ngõ hẻm đường cùng đâu đâu cũng chửi bới ta là “dâm phụ”, “kẻ phản quốc”.
Thậm chí có học tử còn dán hịch văn trước cổng Quốc Tử Giám:
“Ả tiện nhân này không trừ, quốc gia vô cương thường!”
Ta cười gằn.
Thứ thủ đoạn hạ lưu rẻ tiền này, cũng xứng gọi là mưu kế sao?
Đêm ấy, ta lệnh Tưởng Tại Tranh tung tin:
Ba vạn thiết kỵ Bắc Địch đã tập kết sát ải Nhạn Môn, nếu Tả Hiền Vương phi chịu nhục nơi kinh thành, đại quân tức khắc xuôi nam hạch tội.
Triều đình rúng động.
Lão Hoàng đế ngay trong đêm triệu kiến ta, thái độ thay đổi ngoắt một trăm tám mươi độ:
“Vương phi chịu ủy khuất rồi! Trẫm nhất định sẽ nghiêm trị kẻ phao tin đồn nhảm!”
Ta bình thản đáp:
“Bệ hạ không cần nhọc công tra xét. Ta chỉ mạn phép hỏi một câu — nếu hôm nay người bị bôi nhọ là Hạ Dư tiểu thư, ngài có còn nói ‘tra một chút’ nữa không?”
Lão Hoàng đế cứng họng.
Hôm sau, Hình bộ “tra xét” rõ ràng: Bức xuân cung đồ là do nha hoàn Châu Nhi của Hạ gia vẽ nên, do có kẻ sai sử.
Châu Nhi bị lôi ra đường lớn đánh gậy cho đến chết.
Còn kẻ chủ mưu — Hạ Dư, vì tội “quản giáo kẻ dưới không nghiêm”, bị cấm túc tại Tướng quân phủ, tước bỏ cáo mệnh.
Ả quỳ gối khóc lóc gào thét trước cổng phủ suốt một đêm, nhưng không một ai đoái hoài.
Mũi đao thứ năm, ta để dành riêng cho Cận Tích.
Ta biết, tâm trí đứa trẻ đã bị đầu độc quá sâu, nhất thời không thể thay đổi.
Nhưng ta không vội.
—
Chương 6
Tiết trời kinh thành độ đầu xuân vẫn còn se lạnh, hoa lê chớm nở, nhưng chẳng át nổi mùi máu tanh nồng của những lời đồn thổi ngập tràn.
Bức «Tả Hiền Vương phi dạ yến đồ» dẫu đã bị Hình bộ thu hồi, kẻ vẽ tranh bị trượng tễ, nhưng tin đồn như ngọn lửa bùng phát trên thảo nguyên khô, từ lâu đã cháy vào các quán trà, ngõ hẻm và tận hậu viện của lũ quan liêu.
Trên đường phố, có kẻ chỉ tay về phía sứ quán Bắc Địch, nhổ toẹt một bãi nước bọt:
“Phi! Một con đàn bà bị ruồng bỏ, cũng dám vác mặt về diễu võ dương oai cơ đấy?”
Nhưng bọn họ nào đâu biết —
Hạ Kha ta đây, chưa bao giờ trở về để diễu võ dương oai.
Ta trở về, là để đòi nợ.
Ba ngày sau, bên ngoài đại đường Hình bộ, người vây quanh đông nghìn nghịt.
Chẳng phải dân đen bình thường, mà là bá quan lục bộ, tông thất huân quý, ngôn quan Ngự sử đài, thậm chí ngay cả Thái phó vốn luôn đóng cửa xưng bệnh cũng chống gậy tìm đến.
Chỉ vì vụ án đem xét xử hôm nay, không phải vụ án tầm thường, mà là tội ác tày đình “Mạo nhận hoàng tự, khi quân võng thượng”.
Trạng cáo, do chính tay ta đưa lên.
Nguyên cáo: Bắc Địch Tả Hiền Vương phi Hạ Kha.
Bị cáo: Đích nữ Tướng quân phủ, Thái tử Chính phi Hạ Dư.

