“A Tích, con mang họ Cận, là hoàng tôn của Đại Dận. Nơi này là cội rễ của con.”

Ta khẽ nói,

“Nhưng tâm của nương, sớm đã không còn ở nơi này nữa rồi.”

“Vậy con đổi sang họ Hạ!”

Nó gào khóc,

“Con theo người tới Bắc cảnh! Con không muốn làm Cận Tích, con muốn làm Hạ Tích!”

Ta nhắm mắt, một giọt lệ lặng lẽ trượt khỏi khóe mi.

Song, ta vẫn không ngoảnh lại.

Bước ra khỏi đại đường Hình bộ, ánh mặt trời chói lòa.

Từ phía sau lưng, vọng tới tiếng gào thét tê tâm liệt phế của Cận Phong:

“Hạ Kha——!”

Ta không dừng bước.

Tưởng Tại Tranh cất giọng trầm trầm: “Có hối hận không?”

Ta lắc đầu:

“Không hối hận. Ta chỉ… xót xa cho con của ta.”

Ngài siết chặt lấy tay ta:

“Thằng bé rồi sẽ hiểu. Đợi nó trưởng thành, nó sẽ minh bạch — nàng không phải bỏ rơi nó, mà là trao cho nó quyền được lựa chọn sự thật.”

Ta tựa đầu vào vai ngài, cuối cùng cũng cho phép mình òa khóc nức nở.

Chương 7

Từ sau buổi đối chất trên công đường, cục diện kinh thành cuồn cuộn đổi thay.

Hạ Dư bị phế làm thứ nhân, giam lỏng tại Tướng quân phủ, Hạ gia xưa kia tân khách tấp nập, nay cửa đóng then cài, vắng tanh vắng ngắt.

Lão phu nhân lâm bệnh liệt giường, Tướng quân bị Ngự sử vạch tội “Giáo nữ vô phương, dung túng nữ nhi lừa dối quân vương”, bị giáng xuống làm một quan nhàn tản.

Còn Cận Phong, bị bách tính phỉ nhổ, bị phe đối lập thừa cơ đàn hặc, Hoàng đế cũng ngày một thất vọng về hắn.

Hắn không còn lên triều hội, cả ngày giam mình trong cửa không bước nửa bước.

Trong cung truyền tai nhau rằng, hắn đập nát toàn bộ gương đồng trong tẩm điện —

Bởi hình ảnh phản chiếu trong gương, gợi hắn nhớ đến chính bộ dạng của mình trong động giả sơn đêm hôm ấy.

Kinh động hơn nữa là, ba ngày sau, hắn dắt tay Cận Tích, đi bộ đến trước cổng sứ quán Bắc Địch, rồi quỳ sụp xuống nền tuyết trắng.

Hôm đó tuyết lớn bay đầy trời, mặt đất phủ một màu tang thương trắng xóa.

Hắn mặc một bộ áo đơn mong manh, không khoác áo choàng, ôm chặt lấy Cận Tích đang run cầm cập trong lòng.

Khuôn mặt nhỏ của đứa trẻ tím ngắt vì rét, nhưng vẫn bướng bỉnh không chịu khóc.

Khi lính canh báo vào, ta đang đun trà trong noãn các.

“Hắn quỳ bao lâu rồi?”

“Hai canh giờ rồi ạ, tuyết ngập quá đầu gối rồi.”

Ta bỏ ly trà xuống, bước đến bên cửa sổ.

Chạm ánh mắt qua khung cửa sổ chạm khắc, ta thấy hắn quỳ giữa màn tuyết, sống lưng thẳng tắp, nhưng thân thể thì run rẩy từng cơn.

Cận Tích ngả đầu vào lòng hắn, bàn tay nhỏ nắm chặt vạt áo hắn, đôi mắt hướng về phía cổng sứ quán chan chứa niềm mong đợi.

Tưởng Tại Tranh đứng sau lưng ta, giọng trầm đục:

“Hắn muốn dùng đứa bé để ép nàng quay về.”

Ta cười lạnh:

“Hắn biết ta hay yếu lòng.”

“Vậy nàng có yếu lòng không?”

Ta trầm mặc một lúc lâu, khẽ đáp:

“Ta xót xa A Tích, nhưng ta không tin Cận Phong.”

Đêm xuống, bão tuyết vẫn không ngừng.

Ta lệnh cho tỳ nữ đem ra hai chiếc chăn lông dày và một bình canh gừng nóng.

Cận Phong không nhận chăn, chỉ đỡ lấy canh gừng, đút cho Cận Tích uống trước, còn bản thân thì chẳng nhấp lấy một ngụm.

Sang ngày thứ hai, hắn vẫn quỳ ở đó.

Ngày thứ ba, đứa nhỏ phát sốt, cơn sốt hầm hập không lùi, hắn ôm chặt con, dập đầu liên tục trên tuyết, trán đập ứa cả máu:

“Hạ Kha! Cầu xin nàng gặp nó một lần! Nó sắp không trụ nổi nữa rồi!”

Ta đứng trên lầu, chứng kiến cảnh tượng ấy, móng tay bấu chặt vào lòng bàn tay.

Tưởng Tại Tranh đưa cho ta chiếc áo choàng:

“Đi đi. Không phải vì hắn, mà là vì đứa nhỏ.”

Ta bước xuống lầu.

Tiến lại gần hắn, ngồi xụp xuống, sờ lên trán Cận Tích — nóng rực.

“Bế nó vào trong.”

Ta cất giọng lạnh nhạt.

Trong đôi mắt Cận Phong bừng lên tia hy vọng, nhưng chẳng dám nói thêm lời nào, chỉ ôm chặt con lặng lẽ nối bước theo ta.

Ta lệnh người mời Thái y, rồi đích thân sắc thuốc.