Văn Thê quả nhiên đang ở bên bệ bếp cũ.
Cô ta nghe tiếng bước chân, quay đầu nhìn tôi: “Dậy rồi à?”
Tôi đứng ở chân cầu thang, cổ họng nghẹn đắng: “Văn Thê.”
“Ừ.”
“Không phải cô bám lấy tôi.”
Cô ta không nói gì.
“Là tôi đã gọi cô về trước, đúng không?”
Trong bếp yên lặng một lát, chỉ còn lại tiếng nhào nặn bột trên thớt.
Qua rất lâu, cô ta mới khẽ “ừ” một tiếng: “Đúng.”
Tôi bước tới, đứng trước mặt cô ta: “Hồi nhỏ tôi ước nguyện bên bếp lò, gọi cô ra. Sau đó bà nội phát hiện điểm bất thường, tìm người trấn áp chuyện này xuống, cho nên tôi đã quên mất.”
Văn Thê cúi đầu nhìn khối bột, không phủ nhận.
Lòng tôi bỗng rối bời đến đáng sợ.
Thì ra không phải cô ta tình cờ bị mắc kẹt trong cửa tiệm này, tình cờ gặp được tôi.
Thì ra đoạn nhân quả này đã bắt đầu từ lúc tôi còn nhỏ.
Là tôi lên tiếng trước, là tôi nói đừng để tôi một mình, là tôi đã lôi một âm hồn vốn dĩ mắc kẹt trong bếp, cưỡng ép kéo vào cuộc đời tôi.
“Cô đã canh giữ cho tôi rất nhiều năm?” Tôi hỏi.
“Không phải lúc nào cũng vậy.” Cô ta nói, “Lúc thì có thể ra ngoài, lúc thì không. Khi anh ở gần, tôi có thể nhìn rõ anh hơn một chút; khi anh đi xa, thì nhạt nhòa.”
“Tại sao không nói cho tôi biết?”
“Khi đó anh còn quá nhỏ, sau này anh quên rồi, vả lại sống cũng chẳng dễ dàng gì.” Văn Thê ngẩng đầu nhìn tôi, “Tôi nói ra, chỉ khiến anh thêm khó chịu thôi.”
Tôi nhìn cô ta, lần đầu tiên không dám đối diện với ánh mắt cô ta.
Không phải vì sợ.
Mà là vì áy náy.
Tôi luôn nghĩ cả đời này mình sống như một kẻ gom đủ số lượng, ai cũng có thể gạt tôi sang một bên.
Nhưng bây giờ tôi mới biết, có một người phụ nữ đã chết nhiều năm, chỉ vì một câu nói của tôi lúc nhỏ, mà thực sự đã dõi theo tôi suốt ngần ấy thời gian.
Tôi thấp giọng hỏi: “Cô có hối hận không?”
Văn Thê không trả lời ngay.
Cô ta bỏ khối bột trên tay xuống, lau sạch đầu ngón tay, mới nói: “Anh gọi tôi, thì tôi đến thôi.”
Câu nói này quá nhẹ, nhẹ đến mức lồng ngực tôi đau nhói.
16
Tôi bắt đầu thừa nhận một sự thật.
Tôi không nỡ rời xa Văn Thê.
Không phải vì cô ta có thể giúp tôi gói bánh bao, cũng không phải vì có cô ta ở đây, buôn bán trong tiệm tốt hơn.
Nếu thực sự chỉ tính toán những thứ đó, tôi hoàn toàn có thể đeo chuỗi hạt bàn tính lên, cách ly cô ta ra, tự mình khổ cực một chút cũng sống được.
Nhưng vấn đề là, tôi không muốn.
Cả đời này, đây là lần đầu tiên tôi biết được, 4 giờ sáng sẽ có người giúp tôi nhóm lửa trước, vì sợ tôi dậy muộn không kịp đón đợt khách đầu tiên.
Lần đầu tiên biết được, đêm quá mệt gục xuống bàn ngủ thiếp đi, tỉnh dậy thì công việc ngày hôm sau đã có người lặng lẽ làm xong.
Lần đầu tiên biết được, khi mình về tiệm trễ vài chục phút, cũng có người đang đếm thời gian.
Những thứ này, còn khiến người ta nghiện hơn cả tiền.
Đêm đó dọn hàng sớm, tôi ra tiệm tạp hóa đầu hẻm mua hai lon bia và một túi lạc rang.
Về tiệm, tôi ngồi trên chiếc ghế nhựa trước cửa bếp, Văn Thê đứng bên bệ bếp, nhìn nồi sữa đậu nành đang ninh lửa nhỏ.
Tôi khui một lon, ngửa đầu tu một ngụm, hơi lạnh tràn ngập cuống họng.
“Văn Thê.” Tôi gọi.
“Ừ.”
“Người mà cô đợi, có phải luôn là tôi không?”
Cô ta không trả lời ngay.
Nồi sữa đậu nành kêu “ùng ục” một tiếng, nổi lên một bong bóng nhỏ.
Cô ta nhìn cái nồi đó, giống như rất lâu về trước cũng từng giữ lửa như vậy.
Qua một hồi lâu, cô ta mới đi đến trước mặt tôi, lấy lon bia trong tay tôi ra, đặt lên chiếc bàn bên cạnh.
“Uống ít thôi.” Cô ta nói.
Tôi bật cười: “Tôi đang hỏi cô mà.”
“Uống say ngày mai không dậy nổi đâu.”
“Nếu tôi thực sự không dậy nổi, chẳng phải còn có cô sao?”
Cô ta rốt cuộc cũng ngước mắt nhìn tôi.
Đôi mắt đó vẫn đen láy, nhưng chút lạnh lẽo bên trong dường như không còn cứng nhắc nữa.

