Dạo trước tôi từng bị đứt tay, thuận tay điểm chỉ máu lên một tờ hóa đơn nhập hàng, chắc chắn là thứ đó đã bị ông ta lấy đi.

Tôi quay lưng định quay lại xé bùa, Mã Hội Sơn lạnh lùng nói từ phía sau: “Cậu dám xé mạnh, cô ta sẽ tan biến trước.”

Bước chân tôi khựng lại.

“Bùa trấn bếp đã tiến vào chấp niệm rồi.” Ông ta nói, “Bây giờ cậu đụng vào, chỉ khiến cô ta đau đớn hơn thôi.”

Tôi đưa lưng về phía ông ta đứng rất lâu, nắm đấm siết đến tê dại, cuối cùng vẫn không dám động đậy.

Khoảnh khắc đó, lần đầu tiên tôi hận sự vô dụng của bản thân.

20

Sau khi Văn Thê bị đóng đinh trở lại bếp lò, cả cửa tiệm đều trở nên xáo trộn.

Cửa tiệm vẫn là cửa tiệm đó, lồng hấp vẫn ở đó, thớt vẫn ở đó, nồi sữa đậu nành cũng vẫn ở đó, nhưng hương vị thì thay đổi hoàn toàn.

Bánh bao ủ không nở, vỏ bánh không cứng thì xẹp, sữa đậu nành cũng luôn thiếu chút gì đó.

Ngày đầu tiên khách hàng chưa phàn nàn gì, ngày thứ hai, ngày thứ ba, khách quen rõ ràng thưa thớt hẳn.

Có người hỏi tôi: “Ông chủ, quán đổi thợ rồi à?”

Tôi chỉ biết gượng cười, bảo không có.

Nhưng trong lòng tôi thừa hiểu, đúng là đã đổi rồi.

Không phải thợ, mà là cái “khí” chống đỡ cửa tiệm này đã biến mất.

Ban ngày tôi vẫn phải cắn răng bán hàng, đến tối dọn tiệm xong lại ngồi thẫn thờ canh cái bếp lạnh ngắt.

Lá bùa ở miệng bếp tôi không dám cưỡng ép xé đi, chỉ biết lần lữa tìm kiếm tài liệu, đi hỏi han khắp nơi, kết quả đa phần đều là những lời đồn đại thần hồn nát thần tính, chẳng có cách nào đáng tin cậy.

Tào Dã thấy tôi trạng thái không ổn, đi cùng tôi đến miếu hai lần, cũng vô ích.

Tệ hại hơn nữa là, Dăm Bông đổ bệnh.

Lúc đầu nó chỉ uể oải, ăn ít, sau đó bắt đầu nôn mửa, nằm liệt trước cửa bếp không chịu nhúc nhích.

Tôi bế nó đến phòng khám thú y, bác sĩ nói nó bị Parvo (bệnh đường ruột), phải nằm viện, có tốn tiền cũng chưa chắc đã cứu được.

Tôi bế Dăm Bông đứng trước cửa phòng khám, đầu óc ong lên một tiếng.

Dạo đó trong tay tôi vốn dĩ không có bao nhiêu tiền, tiền nhà sắp đến hạn, nợ tiền hàng còn ứ đọng, nghĩ cách cho Văn Thê cũng tốn kém không ít.

Nhưng tôi vẫn gom hết số tiền chuẩn bị gia hạn tiền nhà ném vào.

“Cứ chữa trước đi.” Tôi nói.

Bác sĩ liếc nhìn tôi một cái, gật đầu.

Những ngày sau đó, ban ngày tôi trông tiệm, tối đến lại chạy ra phòng khám.

Dăm Bông cắm kim truyền dịch, rúc trong lồng, thấy tôi đến thì cố sức vẫy nhẹ cái đuôi.

Tôi thò tay qua song sắt xoa đầu nó, sống mũi cứ cay cay.

“Mày ráng trụ lại nhé.” Tôi dặn nó, “Đừng có cũng bỏ tao mà đi.”

Nhưng cuối cùng nó vẫn không trụ nổi.

Đêm hôm đó tôi đến đón nó, bác sĩ đã trùm mảnh vải trắng lên rồi.

Bảo là đã cấp cứu nhưng không qua khỏi.

Tôi đứng ngây ra đó nửa ngày không nhúc nhích, trong tay vẫn còn nắm chặt cây xúc xích vừa mua, vỏ bọc còn chưa bóc.

Về tiệm, tôi đặt Dăm Bông xuống trước cửa bếp.

Trước khi chết, nó cũng cuộn mình hướng về phía này, giống như vẫn đang chờ đợi ai đó từ bên trong bước ra, vứt cho nó một miếng vỏ bánh bao.

Tôi ngồi xổm trên mặt đất, ôm chặt lấy nó, lần đầu tiên thực sự suy sụp không gượng nổi nữa.

Nước mắt rơi lả chả trên bộ lông nó, từng giọt từng giọt, chính tôi cũng không ngờ mình lại khóc nức nở đến vậy.

Có lẽ do dạo này dồn nén quá đáng, cũng có thể là tôi bỗng nhiên nhận ra, dường như tôi thực sự không giữ lại được bất cứ thứ gì.

Tiệm không giữ được hương vị cũ, Văn Thê không giữ được, ngay cả một con chó ăn bám vỏ bánh bao, tôi cũng không giữ được.

Căn bếp lạnh lẽo đến đáng sợ, tôi ôm Dăm Bông, cả người run rẩy.

21

Tôi chôn Dăm Bông ở bãi đất hoang phía sau khu ổ chuột.

Chỗ đó trước đây là một bãi đất trống, sau này hàng rào bị phá bỏ, cỏ mọc um tùm, bên cạnh còn có vài cái cây cong queo.