Cuối cùng, một người phụ nữ đứng bên cạnh bếp.
Cô ta mặc bộ váy áo sẫm màu kiểu cũ, cổ tay áo bo rất chặt, tóc rất dài, xõa ra sau lưng.
Sắc mặt rất nhợt nhạt, kiểu nhợt nhạt của người chưa từng được thấy ánh mặt trời.
Đuôi mắt cô ta hơi lạnh lùng, đôi môi không chút huyết sắc.
Nhưng khi cô ta một tay vịn vào bệ bếp, tay kia chạm vào nắp lồng hấp, lại mang một cảm giác thuần thục đến kỳ lạ.
Giống như cô ta vốn dĩ nên đứng ở đây, vốn dĩ nên trông coi nước trong nồi và lửa trong lò.
Tôi nhìn cô ta, cô ta cũng nhìn tôi.
Rất lâu sau, cô ta lên tiếng trước: “Anh ốm đi rồi.”
Tôi sững sờ.
Câu nói này cất lên quá đỗi tự nhiên, tự nhiên đến mức giống như chúng tôi đã quen nhau từ lâu, giống như cô ta đã dõi theo tôi suốt nhiều năm liền.
Tôi nhíu mày: “Cô nhận nhầm người rồi phải không? Tôi không quen cô.”
Cô ta không lập tức phản bác, chỉ nhìn tôi, trong ánh mắt có chút mông lung, như đang suy nghĩ điều gì.
Một lát sau, cô ta mới nói: “Tôi không nhớ rõ nữa.”
Tôi đứng dậy, tiến lại gần bệ bếp thêm một bước: “Cô tên là gì?”
“Văn Thê.” (闻栖 – Wen Qi)
“Tại sao cô lại ở đây?”
“Giữ bếp.”
“Giữ bếp cho ai?”
Cô ta trầm mặc một lát, ánh mắt rơi xuống khay bánh bao sống trên thớt, giọng rất nhẹ: “Đợi một người về ăn cơm.”
Sống lưng tôi hơi lạnh buốt: “Người đó là ai?”
Văn Thê ngước mắt lên, nhìn tôi, chậm rãi nói: “Giống anh.”
5
Đêm đó tôi gần như không ngủ, toàn nói chuyện với Văn Thê.
Nói chính xác thì, tôi hỏi, cô ta đáp.
Đôi khi trả lời rất ngắn, đôi khi chỉ nhìn tôi, không nói gì.
Tôi hỏi cô ta chết thế nào, cô ta lắc đầu.
Tôi hỏi cô ta ở đây bao lâu rồi, cô ta nói không nhớ rõ.
Tôi hỏi bà chủ đời trước có phải là cô ta không, cô ta bảo không phải.
Cô ta chỉ nhớ vài chuyện.
Phải giữ bếp.
Phải nổi lửa.
Có một người không được để bị đói.
Ba câu này cô ta nói giống như đang kể về một việc đã làm rất nhiều, rất nhiều lần rồi, nhưng tôi nghe lại càng thấy gai người.
Một nữ quỷ bị mắc kẹt trong chiếc bếp cũ, chỉ nhớ rằng không được để tôi đói, chuyện này nghĩ thế nào cũng thấy sai sai.
Tôi chỉ vào mình hỏi: “Người mà cô nói, là tôi?”
Văn Thê nhìn tôi, không gật đầu thừa nhận ngay, cũng không lắc đầu, chỉ nói: “Rất giống.”
Trong lòng tôi càng thêm rối bời.
Nửa đêm về sáng, tôi thử nhào bột, cô ta đứng bên cạnh xem một lúc, bỗng lên tiếng: “Nhiều nước rồi.”
Tay tôi khựng lại: “Cô còn rành cả cái này à?”
“Anh nhào thế này, bánh ủ ra sẽ bị xẹp.”
Tôi đẩy cái thau về phía cô ta: “Vậy cô nói xem, phải làm thế nào?”
Văn Thê liếc tôi một cái, đứng ra sau lưng tôi, thấp giọng đọc tỷ lệ.
Cô ta đứng gần, tôi có thể cảm nhận được một luồng khí lạnh áp vào sau lưng, nhưng trong lòng bàn tay lại bỗng dưng bớt hoảng loạn đi một chút.
Tôi điều chỉnh lại theo lời cô ta, quả nhiên bột mềm mịn hơn hẳn.
Tiếp theo là xay đậu nành, trộn dưa cải muối, pha nhân thịt, thỉnh thoảng cô ta lại cất giọng chỉnh sửa một câu, giống như đã thân thuộc với cửa tiệm này đến mức quá đáng.
Khi trời gần sáng, tôi và cô ta đã hình thành một sự ăn ý rất kỳ lạ.
Tôi bán phía trước, cô ta làm phía sau.
Khi có khách bước vào tiệm, cô ta sẽ lùi về bên bếp, hoặc trực tiếp hóa thành một làn khói trắng rất nhạt.
Lúc không có người, cô ta lại hiện ra, tiếp tục gói bánh bao, động tác nhanh đến mức khiến tôi chột dạ.
Sáng hôm đó bán xong lồng bánh bao cuối cùng, tôi gục trên quầy thu ngân đếm tiền, đếm mãi đếm mãi, bỗng bật cười.
Văn Thê đang rửa lồng hấp trong bếp, nghe tiếng động, ngẩng đầu nhìn tôi: “Anh cười gì?”
Tôi đập xấp tiền lẻ lên bàn: “Tôi sống ngần ấy năm, lần đầu tiên có ma làm công thay mình.”
Cô ta không tiếp lời, chỉ thản nhiên nói: “Ngày mai thịt bớt mỡ một chút.”
Tôi nhìn cô ta, đột nhiên không còn thấy sợ nữa.

