Không phải không sợ ma, mà là tôi nhận ra con ma này, thực sự đang giúp tôi vun vén cuộc sống.

6

Vài ngày sau đó, việc buôn bán của cửa tiệm dần dần khấm khá hơn.

Những quán ăn sáng kiểu này, vốn dĩ ăn nhau ở tiếng đồn.

Bánh bao ngon, sữa đậu nành vừa miệng, dưa muối đưa cơm, người quanh vùng sẽ rất nhanh truyền tai nhau.

Mấy anh công nhân ở công trường đến sớm nhất, hơn 5 giờ đã bắt đầu xếp hàng; giáo viên và học sinh trường trung học thì đông vào khoảng sau 7 giờ; đám thợ ở tiệm sửa xe lúc 9 giờ sẽ ghé quét sạch một mẻ nữa.

Mỗi ngày tôi dậy lúc 3 rưỡi sáng, 4 giờ nhóm lửa, bận bịu đến hơn 10 giờ mới được ngồi xuống thở hắt ra.

Nhưng dần dần, tôi phát hiện Văn Thê cũng đang thay đổi.

Lúc đầu, cô ta chỉ có thể ở trong bếp, khi ở gần cái bệ bếp cũ thì bóng dáng rõ ràng nhất, đi xa một chút là đường nét sẽ nhạt nhòa.

Sau này khách đông hơn, hơi nước từ lồng hấp cuồn cuộn bốc lên, nồi sữa đậu nành sôi sùng sục, cô ta vậy mà có thể đi đến cửa bếp, thậm chí đứng cạnh quầy thu ngân xem tôi thối tiền.

Có lần tôi thối tiền luống cuống, tiền lẻ rơi lả tả xuống đất.

Tôi ngồi xổm xuống nhặt, mu bàn tay chạm phải một bàn tay khác.

Lạnh buốt.

Tôi ngẩng phắt lên, thấy Văn Thê cũng hơi sững sờ.

Cô ta cúi đầu nhìn đầu ngón tay mình, dường như không ngờ lại thực sự chạm được vào tôi.

“Cô chạm được vào tôi rồi?” Tôi hỏi.

“Chỉ được một lát thôi.”

Giọng cô ta vẫn vậy, nhưng tôi nhìn ra được, bản thân cô ta cũng có chút bất ngờ.

Trưa hôm đó, khách trong tiệm đã về hết, tôi cố ý kéo cửa cuốn xuống một nửa, lấy một cuốn sổ nhỏ ra bắt đầu ghi chép.

Tôi liệt kê lại từng chuyện xảy ra mấy ngày nay.

Thứ nhất, Văn Thê dựa vào bệ bếp cũ để hiện hình.

Thứ hai, lửa trong tiệm càng vượng, người càng đông, cô ta sẽ càng rõ ràng hơn.

Thứ ba, khi nồi sữa đậu nành đầu tiên sôi, luồng khí lạnh trên người cô ta sẽ nhạt đi một chút.

Thứ tư, cô ta không giống loại ma quỷ chuyên hại người.

Viết đến đây, tôi dừng lại.

Bởi vì điều cuối cùng này, thực ra tôi cũng không dám khẳng định trăm phần trăm.

Văn Thê đứng bên bồn rửa rửa giẻ lau, ngước mắt hỏi: “Anh viết gì vậy?”

Tôi gập sổ lại: “Viết về cô.”

Cô ta không hỏi thêm, chỉ đem chiếc giẻ lau sạch treo lên. Ánh nắng từ cửa chiếu xéo vào, rơi trên vai cô ta. Cô ta đứng trong vạt nắng đó, sắc mặt vẫn nhợt nhạt, nhưng đã không còn vẻ yếu ớt như lúc ban đầu.

Tôi chợt nghĩ đến một từ.

“Hương vị nhân gian”. (Khói bếp/Hơi ấm trần gian)

Thứ này trước đây đối với tôi chỉ là một cách nói xa vời.

Quán ăn mở cửa, trong hành lang bay ra mùi xào nấu, sạp hoa quả trước cổng khu chung cư vang tiếng rao, mọi người đều nói đó là hương vị nhân gian.

Nhưng bây giờ nhìn Văn Thê, tôi đột nhiên hiểu ra, thứ này có thể kéo một sinh thể sắp tan biến nán lại chốn trần gian.

Khoảnh khắc đó, trong đầu tôi nảy ra một ý nghĩ rất hoang đường.

Chỉ cần cửa tiệm này cứ mở mãi, có phải cô ta sẽ luôn có thể ở lại không.

7

Văn Thê không biết nói lời ngọt ngào.

Cô ta chăm sóc người khác, nhưng chăm sóc một cách rất cứng nhắc.

Có đêm tôi đi lấy hàng, về khá muộn, bốc dỡ xong bột mì và đậu nành thì đã gần 1 giờ sáng.

Tôi mệt đến mức không nhấc nổi lưng, ngồi trên chiếc ghế nhựa gian ngoài ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Khi mở mắt ra lần nữa, trời bên ngoài đã hửng sáng.

Tôi giật mình tỉnh giấc, lao ngay vào bếp.

Nhân bánh cho ngày mai đã pha xong hết, rau xanh đã được chần qua nước sôi, đậu nành ngâm sẵn trong thùng, sổ sách mở bung, lượng hàng xuất nhập hôm nay ghi chép rõ ràng, rành mạch. Lồng hấp cũng được rửa sạch sẽ, xếp gọn gàng trong góc tường.

Văn Thê ngồi bên bệ bếp cũ, tay cầm một con dao, chậm rãi lau sống dao.

Tôi đứng trước cửa một lúc lâu không nói nên lời.

Cô ta ngước mắt nhìn tôi: “Dậy rồi à?”