Gió từ ngoài cửa thổi vào, cuốn theo những tờ rơi trên mặt đất.

Tôi cúi đầu bật sáng màn hình, rồi lại tắt, lặp đi lặp lại vài lần, trong màn hình toàn là khuôn mặt của chính tôi và cái bóng của cô ta đứng phía sau.

Tôi hỏi: “Cô vẫn luôn đợi tôi à?”

“Ừ.”

“Đợi bao lâu rồi?”

“Không nhớ rõ.”

“Cô không sợ tôi không về sao?”

“Anh sẽ về.” Cô ta nói rất chắc chắn, “Anh đói rồi sẽ về.”

Tôi không biết phải đáp lại thế nào, dứt khoát đứng dậy đi lục tủ lạnh lấy hai chai bia. Khui một chai, tôi tự uống một ngụm, chai còn lại đặt trước mặt Văn Thê: “Cô không uống được, tôi cứ để bày cho vui.”

Cô ta nhìn chai bia một lúc, bỗng nói: “Hôm nay trễ ba mươi bảy phút.”

Tôi sửng sốt: “Gì cơ?”

“Hôm nay anh đi chợ, về tiệm trễ hơn bình thường ba mươi bảy phút.”

Tôi nhìn cô ta, nửa ngày sau mới bật cười thành tiếng: “Cô luôn đếm tính cái này à?”

Văn Thê không trả lời, nhưng tôi biết là vậy.

Tôi miết chặt vỏ chai bia, trong lòng có một góc nào đó như bị thứ gì chạm khẽ vào.

Cảm giác đó đã lâu lắm rồi không xuất hiện, không phải là được thích, cũng không phải là được lấy lòng, mà là có người thực sự đang đếm thời gian đợi bạn trở về.

Tối lúc dọn hàng, tôi kéo cửa cuốn xuống, Văn Thê đứng bên trong nhìn tôi. Tôi bỗng lên tiếng: “Sau này nếu tôi về trễ, tôi sẽ nói trước với cô một tiếng.”

Cô ta怔 lại một chút, gật đầu.

Khoảnh khắc đó tôi cảm thấy, cửa tiệm ăn sáng từng có người chết này, bắt đầu giống như một gia đình rồi.

9

Tào Dã chính là xuất hiện vào lúc này.

Anh ta bày sạp bán đồ ăn đêm ở đầu hẻm, ban ngày giúp người ta sửa cửa, tiện thể bán chút linh kiện ngũ kim. Dáng người cao lớn, trên cánh tay có vết sẹo bỏng cũ, trông khá dữ dằn, nhưng thực ra tính tình rất tốt.

Hôm đó cửa cuốn của tôi bị kẹt, tôi ngồi xổm trước cửa hì hục mãi không mở được. Anh ta đi ngang qua liếc mắt một cái, buông một câu “Cậu làm thế này không được đâu”, rồi quay đầu xách đồ nghề tới giúp tôi sửa.

Hai mươi phút sau, cửa sửa xong.

Tôi hỏi hết bao nhiêu tiền, anh ta xua tay: “Đều là hàng xóm cả, bỏ đi, cậu cứ để lại cho tôi sáu cái bánh bao là được.”

Qua lại vài lần, chúng tôi coi như quen biết.

Tào Dã ăn nói thẳng thắn, biết tôi mới tiếp quản tiệm này, bèn chỉ cho tôi không ít mánh khóe quanh vùng.

Chợ đầu mối nào thịt rẻ, nhà nào đậu nành mới, bên công trường thích ăn bánh bao mặn nhất, trước cổng trường học thì phải chuẩn bị sữa đậu nành ngọt.

Tôi vừa ghi chép, vừa cảm thấy người này đúng là nhiệt tình.

Đêm đó anh ta dọn hàng muộn, tiện tay gõ cửa cuốn nhà tôi: “Đi, làm bát mì đi, tôi mời.”

Vốn dĩ tôi định từ chối, kết quả là bụng lại kêu rột rột trước.

Tào Dã nghe thấy thì cười: “Đừng làm bộ nữa, dân mở tiệm ăn sáng là dễ để bụng đói nhất đấy.”

Tôi suy nghĩ một chút, đi theo anh ta ra sạp mì đầu hẻm.

Hai bát mì bò được bưng lên, tôi ăn rất nhanh, Tào Dã ngồi đối diện nói chuyện làm ăn với tôi, bảo tiệm cậu dạo này đà phát triển tốt đấy, đừng vội mở rộng, cứ gom khách quen cho chắc đã.

Tôi gật đầu, trong lòng cũng thấy khá thoải mái.

Ăn xong về tiệm, Tào Dã lại xách từ yên sau xe ba gác xuống một cục lông xù xì.

Là một con chó cỏ, màu vàng không ra vàng, xám không ra xám, bẩn thỉu như vừa lăn lộn trong bùn, tai dựng đứng, đôi mắt lại khá sáng.

“Con chó này ngày nào cũng bám riết dưới gầm sạp tôi, toàn nhặt xương ăn.” Tào Dã nhét nó vào lòng tôi, “Trước cửa tiệm cậu chẳng phải hay có vỏ bánh bao thừa sao, nuôi đi, còn giữ cửa được.”

Con chó đó vào lòng tôi cũng không giãy giụa, mũi khịt khịt ủi vào tay tôi, đuôi vẫy rối rít.

Tôi cười, đưa tay xoa đầu nó vài cái: “Được, vậy tôi nuôi tạm.”

Tào Dã hỏi: “Đặt tên chưa?”

Tôi cúi đầu nhìn con chó, thuận miệng nói: “Gọi là Dăm Bông đi.”

Tào Dã bật cười: “Cậu đúng là biết cách đỡ phiền phức.”