Tôi bế Dăm Bông về tiệm, tâm trạng vẫn còn khá tốt.
Kết quả là cửa cuốn vừa kéo lên, nụ cười trên mặt tôi liền cứng đờ.
Trên bức tường gạch men trắng trong bếp, toàn là vệt dầu ớt đỏ au.
Từng dòng từng dòng chảy xuống, giống như có ai đó dùng tay quẹt lên tường.
Cả bức tường chi chít, chỉ có duy nhất một câu.
“Hắn là ai.”
Tôi ôm con chó đứng ở cửa, cả người lạnh toát.
Văn Thê đứng bên bệ bếp cũ, trên ngón tay vẫn còn dính dầu ớt.
Cô ta ngước mắt nhìn tôi, đôi mắt đen sâu thăm thẳm, không chút xê dịch.
Dăm Bông rên ư ử một tiếng, rụt người vào lòng tôi.
10
Tôi và Văn Thê nhìn nhau rất lâu.
Mùi tro trong bếp nồng hơn ngày thường, nắp lồng hấp hơi rung rinh, giống như nước bên trong sắp sôi trào.
Tôi đặt Dăm Bông xuống gian ngoài, quay người bước vào, cố gắng giữ giọng điệu bình tĩnh: “Cô làm à?”
“Ừ.”
“Chữ trên tường cũng là cô viết?”
“Ừ.”
Cô ta thừa nhận rất dứt khoát.
Tôi nhìn bức tường đầy vệt đỏ quạch, da đầu căng cứng, nhưng lại không thể buông lời chửi mắng.
Bởi vì dáng vẻ của Văn Thê lúc đứng bên bệ bếp, không giống như lần đầu tiên tôi gặp cô ta.
Lúc đó cô ta chỉ lạnh lùng, còn bây giờ trong sự lạnh lẽo của cô ta mang theo chút nhẫn nhịn.
Tôi chỉ tay lên tường: “Tào Dã, hàng xóm sát vách, giúp tôi sửa cửa, mời tôi ăn bát mì, lại còn tặng tôi con chó.”
Văn Thê chằm chằm nhìn tôi: “Hắn ta chạm vào anh rồi.”
Tôi sững người, chợt nhớ ra lúc Tào Dã nhét con chó vào lòng tôi, tay anh ta có vỗ lên vai tôi.
“Chỉ vỗ một cái thôi mà.” Tôi hơi bất lực, “Chuyện này giữa người sống với nhau là bình thường.”
“Hắn là ai?” Cô ta lại hỏi một lần nữa.
Lần này giọng thấp hơn.
Tôi đột nhiên nhận ra, cô ta căn bản không hỏi tên.
Cô ta không đơn thuần quan tâm Tào Dã là ai, cô ta đang xác nhận, tôi và thế giới người sống bên ngoài có phải lại liên kết với nhau rồi không.
Tôi bước lên một bước, đến gần cô ta hơn một chút: “Văn Thê, cô sợ điều gì?”
Cô ta không nói gì, nhưng ánh mắt càng chìm sâu.
Tôi nhìn cô ta, dần dần hiểu ra.
Cô ta không sợ Tào Dã.
Cô ta sợ tôi quen biết những người bạn bình thường, học được cách qua lại với mọi người, buôn bán trong tiệm ngày càng tốt, cuộc sống cũng ngày càng nề nếp, và rồi một ngày nào đó, tôi sẽ dọn đi, sẽ rời bỏ cửa tiệm này, sẽ trở về với cuộc sống của người bình thường, không bao giờ quay đầu lại.
Nghĩ đến đây, trong lòng tôi bỗng thấy xót xa.
Tôi giơ tay lên, quẹt một chút vệt dầu ớt trên tường, rồi vươn tay ra, từ từ lau đi vệt đỏ trên đầu ngón tay cô ta.
Cô ta giống như bị bỏng, cả người cứng đờ, sắc đen trong mắt cũng từ từ tản ra một chút.
“Chỉ là hàng xóm thôi.” Tôi nói, “Không ai có thể cướp tôi khỏi nơi này đâu.”
Câu nói vừa thốt ra, chính tôi cũng khựng lại.
Câu này nghe quá giống đang dỗ dành người khác, nhưng nói xong tôi không hề hối hận.
Văn Thê nhìn tôi, hồi lâu mới khẽ nói: “Tôi không thích trên người anh có mùi của kẻ khác.”
Tai tôi hơi nóng ran, nhưng miệng vẫn chống chế: “Vậy sau này tôi về sẽ thay áo trước.”
Cô ta không tiếp lời, chỉ cúi đầu nhìn ngón tay mình.
Bầu không khí căng thẳng trong bếp dần tan biến.
Tôi quay người đi lấy giẻ lau, vừa lau tường vừa thở dài: “Lần sau cô có gì cứ nói thẳng, đừng viết lên tường, gạch men này khó rửa lắm.”
Văn Thê đứng sau lưng tôi, một lát sau, khẽ thốt lên một câu: “Biết rồi.”
Tôi lau tường được một nửa, chợt nghe thấy tiếng sủa của Dăm Bông ngoài sảnh.
Tôi chạy ra xem, con chó đang ngồi xổm ở cửa, ngoáy đuôi hướng vào trong bếp. Văn Thê bước theo ra, đứng trong cửa nhìn nó.
Dăm Bông ban đầu rụt rè, sau đó từ từ tiến lại gần, ngửi ngửi chỗ vạt áo của cô ta.
Văn Thê ngẩn người.
“Nó nhìn thấy cô à?” Tôi cũng hơi bất ngờ.
“Chó vốn dĩ dễ nhìn thấy mà.” Cô ta nói.

