“Là mẹ chồng ta.”

**Hồi thứ ba**

Hai ngày sau.

Đông chí. Trời chưa sáng ta đã dậy. Ta đem những lọ sứ nhỏ giấu kỹ, treo ngọc bội phượng hoàng sát người. Rồi ta đẩy cửa bước ra ngoài.

Tuyết ngừng rơi, trời vẫn xám xịt. Ta giẫm trên tuyết, từng bước một rời khỏi lãnh cung.

Trước cửa có hai thị vệ đang dậm chân sưởi ấm. Thấy ta ra, hai người ngẩn ra.

“Đứng lại!” Một thị vệ chặn ta, “Phế hậu không có chỉ, không được rời lãnh cung nửa bước!”

Ta nhìn hắn.

“Ngươi tên gì?”

Tên thị vệ bị hỏi đến ngơ ngác.

“Ta… ta tên gì thì liên quan gì đến ngươi?”

“Ta hỏi ngươi tên gì.”

Tên thị vệ kia kéo tay bạn: “Đừng nói nhảm với mụ ta, đuổi về đi.”

Ta từ trong ngực lấy ra miếng ngọc bội.

“Nhận ra cái này không?”

Hai tên thị vệ ghé lại xem. Khi nhìn rõ ngọc bội, sắc mặt cả hai cùng biến đổi. Ngọc bội phượng hoàng, ngọc xanh, mặt sau họ không thấy nhưng hình phượng mặt trước thì họ biết — đây là vật tùy thân của Thái hậu, thấy ngọc như thấy Thái hậu.

“Nương nương xá tội!” Hai người quỳ sụp xuống.

Ta thu ngọc bội lại.

“Đứng lên đi. Hôm nay các ngươi không thấy ta.”

Hai thị vệ nhìn nhau.

“Phải! Nô tài không thấy gì hết!”

Ta vòng qua họ, đi về phía trước.

Ta đi chậm, vì sáu năm không đi quãng đường xa thế này. Nhưng lưng ta thẳng tắp.

Thái Miếu ở phía đông. Ngự hoa viên ở phía tây. Đại lễ sắc phong bắt đầu giờ Thìn, kết thúc giờ Tỵ. Giờ Tỵ ba khắc, phượng giá sẽ rời Thái Miếu, đi qua Ngự hoa viên để đến điện Giao Thái. Ta có một canh giờ.

Ta rẽ vào một con đường hẻm, đi về hướng Ngự hoa viên. Hai bên là tường đỏ cao vút, phủ tuyết trắng. Ta đi sát chân tường, chiếc áo bông rách kéo lê trên tuyết tạo thành một vệt dài.

Đến cuối hẻm, ta dừng lại.

Phía trước là cửa hông Ngự hoa viên. Có bốn thái giám đang đứng nói chuyện.

“… Nghe nói hôm nay Triệu Hiền phi phong Hậu, tiền thưởng nhiều lắm.”

“Nhiều thì có ích gì, việc cũng nhiều. Lát nữa phượng giá đến, chúng ta phải quét đường cho sạch, không được để sót một cọng cỏ.”

“Quét gì mà quét, tuyết rơi thế này, sao sạch được?”

“Không sạch cũng phải quét, đôi giày của Triệu Hiền phi là đồ tiến cống từ Giang Nam, dính bùn thì ai đền nổi?”

Ta đợi một lát. Một tên đi lấy chổi, ba tên kia đi theo giúp. Cửa hông trống không. Ta lẻn vào.

Ngự hoa viên tuyết phủ trắng xóa. Những cây tùng, cây bách đội mũ trắng, đá hòn non bộ cũng phủ một lớp dày. Đường mòn đã được quét nhưng không sạch, tuyết và bùn trộn lẫn, giẫm lên kêu lạo xạo.

Ta vòng qua hòn non bộ, đi về phía tây.

Ta nhớ cái giếng đó. Giếng Lạc Hà. Năm ta mới vào cung, từng cùng Tiêu Quyết đến đây. Tiêu Quyết chỉ vào cái giếng nói: “Giếng này tên Lạc Hà, do mẫu hậu đặt. Nói là một buổi chiều tà, mặt giếng phản chiếu rực rỡ ánh hoàng hôn, đẹp vô cùng.”

Khi đó, hắn còn gọi ta là “Vinh nhi”.

Ta đứng sau một gốc tùng, nhìn cái giếng. Giếng nằm cạnh hòn non bộ, bao quanh là lan can đá trắng. Miệng giếng đậy nắp gỗ, trên nắp đè một hòn đá.

Ta nhìn quanh. Không có ai. Phượng giá còn nửa canh giờ nữa mới đến.

Ta lấy ra lọ sứ nhỏ dán chữ “Trơn”. Ta khom lưng vòng ra sau hòn non bộ, đi lối mòn tiếp cận cái giếng. Đến nơi, ta ngồi xổm, mở nút lọ. Bên trong là dầu, loại dầu trong suốt, không màu không mùi.

Ta đổ một ít xuống đất quanh thành giếng, không nhiều, chỉ bằng lòng bàn tay. Sau đó bôi một ít lên lan can đá trắng, bôi thật đều, không để lại dấu vết.

Xong xuôi, ta thu lọ sứ vào ngực, lùi lại sau gốc tùng.

Đợi một lát, từ xa vang lên tiếng bước chân. Ta ló đầu nhìn, là mấy tên thái giám quét dọn, cầm chổi và hốt rác đi về phía này.

Họ đến bên giếng, dừng lại.

“Nghỉ một chút, mệt chết đi được.”

“Đừng nghỉ nữa, phượng giá sắp đến rồi.”

“Còn nửa canh giờ nữa, kịp mà.”