“Tôi nghĩ ra nên làm gì rồi.”
“Làm gì?”
“Làm một ‘Bức tường tình thư đô thị’.” Anh tựa lưng vào ghế, nghiêng đầu nhìn tôi, giọng nói nhạt nhẽo như thể thuận miệng nhắc tới, “Để mỗi người đến tham quan đều có thể viết một câu lên đó, viết cho thành phố này, hoặc viết cho người mình thích.”
Cabin từ từ hạ xuống trong ánh chiều tà. Trên mặt sông xa xa, một con tàu chở hàng kéo còi, âm thanh trầm đục, vang lên như một tiếng tù và cất vọng.
Tôi im lặng một lúc, cảm thấy chỉ nhiêu đó thôi là chưa đủ.
“Thêm một thiết bị tương tác nữa đi.” Tôi nói, “Các cặp đôi sẽ viết tên nhau lên một tấm thẻ nhỏ có hình dáng giống như chiếc vé tàu cũ, rồi dùng kìm bấm vé ngày xưa bấm một lỗ, thả vào hộp thu thập trong suốt. Khi dự án hoàn thành, hộp thu thập đầy, tôi có thể khảm những cái tên đó lên bức tường ghi danh ở cuối bảo tàng.”
Nghe xong câu đó, Thẩm Trục Dã im lặng khoảng mười giây.
Sau đó, anh móc từ túi áo khoác trong ra một cuốn sổ tay nhỏ bằng da bò và một cây bút máy ngắn.
Cuốn sổ nhỏ đó trông có vẻ đã được lật giở rất nhiều lần, phần mép đã hơi sờn cũ.
Anh không mở trang mới, mà xé phần nếp gấp bí mật ở mặt trong bìa sau, lấy ra một chiếc vé tàu cũ được gấp đôi.
Tấm vé đó là một chiếc vé tàu cũ thật sự, chất giấy đã ngả vàng, phần viền hơi giòn, bên trên in chữ “Phụng Thành – Lâm Giang”, dấu ngày tháng đã là chuyện của rất nhiều năm về trước rồi.
Anh kẹp tấm vé tàu nhìn chừng hai giây, rồi cúi đầu, dùng bút máy viết lên mặt sau chiếc vé hai chữ.
Từng nét từng nét, nắn nót và mạnh mẽ.
“Thẩm Trục Dã”. Ngay đằng sau, anh viết tiếp “Ôn Hạ”.
Viết xong, anh lật chiếc vé lại, để tôi xem hai chữ ở mặt sau đó.
Tên của tôi.
Bộ chấm thủy trong chữ “Ôn” (温) được anh viết hơi to hơn một chút so với nửa còn lại, giống như đang chứa đựng một tâm tư giấu kín nào đó.
Thẩm Trục Dã ngẩng đầu nhìn tôi, đôi mắt nâu sẫm ấy phản chiếu tia sáng cuối cùng của ráng chiều ngoài cửa sổ vòng quay.
“Vậy thì bắt đầu từ chúng ta nhé.” Anh nói.
Hốc mắt tôi đột nhiên nóng ran.
Không phải vì cảm động, mà vì nhìn qua là biết tấm vé tàu này là một món đồ cũ được cất giữ cẩn thận nhiều năm, là thứ anh mang từ nhà đi.
Không phải anh cố tình mang theo để chờ lên vòng đu quay mới lấy ra cho tôi xem – anh vốn không hề biết hôm nay tôi sẽ đưa ra gợi ý đó. Là anh vẫn luôn mang tấm vé tàu này bên mình.
“Thẩm Trục Dã.” Tôi mở miệng, giọng nói hơi bồng bềnh.
“Ừ.”
“Tại sao anh lại luôn mang theo tấm vé tàu cũ này bên người?”
Anh cụp mắt, ngón cái vuốt ve nếp gấp trên viền vé tàu, im lặng khoảng năm giây.
Rồi anh cất giọng, âm thanh rất khẽ, như sợ làm kinh động đến điều gì.
“Nhiều năm trước, khi bố tôi còn sống, có một lần ông mua được vài tấm vé tàu cũ như thế này ở chợ đồ cũ. Tấm vé ông thích nhất chính là tấm này, chuyến Phụng Thành đi Lâm Giang. Ông bảo đây là ký ức thuở nhỏ ông theo ông nội ra bến tàu xem tàu thủy. Về sau ông đưa tấm vé này cho tôi, bảo là sau này nếu gặp được người quan trọng, có thể lấy làm quà tặng.”
Anh ngừng lại một chút.
“Tôi vẫn luôn giữ nó. Hồi cấp ba đã muốn tặng em, nhưng chưa đưa được.”
Anh gập đôi chiếc vé lại một lần nữa, đặt vào tay tôi. Những ngón tay tôi siết chặt mẩu giấy ố vàng ấy, cảm giác như lòng bàn tay mình vừa bị một thứ gì đó làm bỏng rát.
Cabin vòng quay từ từ hạ xuống mặt đất. Khi chúng tôi bước ra khỏi khu vui chơi, trời đã tối mịt.
Trên quảng trường đằng xa có vài đứa trẻ đang đốt pháo hoa nhỏ, những tia lửa vàng rực từng chùm từng chùm bung nở rồi tan biến trong bầu trời đêm.
“Thẩm Trục Dã.” Tôi dừng bước.
“Ừ.”
“Điều ước năm sinh nhật 18 tuổi của em là được đón sinh nhật ở khu vui chơi, điều này anh đã giúp em thực hiện rồi. Nhưng hôm đó em còn ước một điều thứ hai nữa…”

